VACOD - HBA sắp tổ chức Hội nghị tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp

Tham dự Chương trình Bữa sáng Doanh nhân ngày 28/3 có PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn, Nguyên Phó Trưởng ban Ban Chính Sách, Chiến Lược Trung ương; ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI; ông Mai Xuân Hùng, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội; TS Phạm S, Nguyên Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Lâm Đồng, Phó Chủ tịch hội Hội Khoa học và Công nghệ Chè Việt Nam; ông Nguyễn Ngọc Dũng, Giám đốc Ban quản lý các dự án Bộ Giáo dục & Đào tạo; PGS.TS Vũ Văn Tích, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ; PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, Phó trưởng ban Khoa học và đổi mới sáng tạo, Giám đốc Công viên Công nghệ tiên tiến và đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; TS Vũ Tuấn Anh, Phó trưởng Ban Khoa học Đổi mới sáng tạo của Đại học Quốc gia Hà Nội; ông Bùi Xuân Thành, trưởng nhóm nghiên cứu hóa hữu cơ khoa hóa - Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội; bà Nguyễn Thị Thu Thủy, Phó Chủ tịch thường trực VACOD cùng các doanh nhân đến từ hai Hiệp hội Phát triển Hàng tiêu dùng Việt Nam - VACOD và Hiệp hội Doanh nghiệp TP. Hà Nội – HBA…

TỔ CHỨC HỘI NGHỊ THÁO GỠ KHÓ KHĂN CHO DOANH NGHIỆP

Mở đầu chương trình Bữa sáng Doanh nhân ngày tuần này, Chủ tịch Nguyễn Hồng Sơn cho biết cộng đồng doanh nghiệp của hai hiệp hội đã tiếp nhận nhiều thông tin quan trọng, nổi bật là các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước vừa được thông qua tại Hội nghị Trung ương lần thứ 2, khóa XIV. Những nội dung này tiếp tục khẳng định rõ quan điểm và định hướng chỉ đạo nhất quán, trong đó đặc biệt nhấn mạnh mục tiêu phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng hai con số.

Trong bối cảnh đó, cộng đồng doanh nghiệp được xác định là lực lượng giữ vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng, hướng tới một nền kinh tế phát triển bền vững và có chất lượng cao.

Đáng chú ý, ngày 27/3 Thủ tướng Chính phủ đã chủ trì hội nghị với chủ đề “Doanh nghiệp góp phần vào tăng trưởng hai con số và Thủ tướng Chính phủ tri ân doanh nghiệp”. Hội nghị tập trung vào hai nội dung trọng tâm, bao gồm thúc đẩy doanh nghiệp tham gia sâu rộng hơn vào quá trình phát triển kinh tế nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số; đồng thời ghi nhận và tri ân những đóng góp quan trọng của cộng đồng doanh nghiệp trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

dscf9104.jpg.avif

Người đứng đầu VACOD và HBA thông tin về một sự kiện quan trọng sắp diễn ra: Bám sát các định hướng chỉ đạo chung của Đảng và Nhà nước, hai hiệp hội đã chủ động triển khai công tác nghiên cứu, rà soát và xây dựng kế hoạch hành động cụ thể. Dự kiến trong quý 2/2026, hiệp hội sẽ tổ chức một hội nghị chuyên đề nhằm đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay.

“Hội nghị sẽ tập trung làm rõ những nhu cầu cấp thiết của doanh nghiệp, nhận diện các khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ, đồng thời xem xét khả năng phối hợp hỗ trợ từ các ngành, lĩnh vực liên quan. Trong đó, các chính sách về thuế, tài chính và ngân hàng được xác định là những nội dung trọng tâm, đang tác động trực tiếp và gây nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp”, Chủ tịch Nguyễn Hồng Sơn nhấn mạnh.

Chủ tịch Nguyễn Hồng Sơn cũng yêu cầu cộng đồng doanh nghiệp cần đẩy mạnh hơn nữa quá trình chuyển đổi số, chủ động triển khai các nội dung theo tinh thần Nghị quyết 57. Đồng thời, tại hội nghị sắp tới, hiệp hội dự kiến mời các chuyên gia tham gia phân tích, đánh giá tình hình địa chính trị thế giới cũng như diễn biến, xu hướng cũng như tác động của các cuộc xung đột quân sự, khủng hoảng trong thời gian gần đây.

Theo ông, những biến động này không còn mang tính chất xa vời mà đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như đời sống người dân. Điều này thể hiện rõ qua việc giá xăng dầu, chi phí logistics và nhiều loại hàng hóa gia tăng, kéo theo những ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Trên cơ sở đó, hiệp hội định hướng tổ chức hội nghị như một diễn đàn mở, nơi các doanh nghiệp và các bên liên quan có thể trao đổi, thảo luận về những vấn đề thực tiễn đang đặt ra, trong đó có những khó khăn liên quan đến tiếp cận và hỗ trợ nguồn vốn.

Đáng lưu ý, theo Chủ tịch Nguyễn Hồng Sơn, việc tiếp cận vốn vay ngân hàng hiện nay đang gặp nhiều trở ngại, xuất phát từ hai nguyên nhân chính là mặt bằng lãi suất có xu hướng gia tăng và hạn mức tín dụng ngày càng bị siết chặt, khiến hoạt động cho vay trở nên thận trọng hơn.

Trong bối cảnh hoạt động sản xuất, kinh doanh còn nhiều khó khăn, đặc biệt đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, vấn đề tiếp cận nguồn vốn đang trở thành một nhiệm vụ trọng tâm, cần được nghiên cứu và xử lý trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành.

“Trong tuần qua, lãnh đạo hiệp hội đã trực tiếp làm việc, trao đổi với một số ngân hàng nhằm tìm kiếm các giải pháp tháo gỡ khó khăn về vốn cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, hiệp hội dự kiến sẽ tổ chức một hội nghị chuyên đề, tập trung thảo luận sâu các nội dung liên quan đến chính sách thuế, cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp, cũng như việc áp dụng và kê khai chính sách thuế trong giai đoạn hiện nay sao cho phù hợp với thực tiễn”, TS Nguyễn Hồng Sơn cho biết.

dscf9108.jpg.avif

Chủ tịch Sơn cho biết thêm, hội nghị sẽ xem xét góc nhìn từ phía ngành ngân hàng trong hoạt động hỗ trợ tín dụng, cũng như vai trò và giải pháp điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính và thuế. Dự kiến, ngoài sự tham gia của các chuyên gia, hiệp hội sẽ mời các nhà quản lý, đại diện từ Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính cùng một số bộ, ngành liên quan để cùng trao đổi, làm rõ các vấn đề đặt ra.

Để chuẩn bị cho hội nghị, Chủ tịch Nguyễn Hồng Sơn yêu cầu hai văn phòng hiệp hội triển khai khảo sát, lấy ý kiến doanh nghiệp nhằm tổng hợp đầy đủ những khó khăn, vướng mắc cũng như các đề xuất về chính sách hỗ trợ cần thiết. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến nhu cầu tiếp cận vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, nhất là đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu, vốn đòi hỏi nguồn vốn lớn và ổn định.

Theo kế hoạch, công tác khảo sát sẽ được hoàn thành trong tháng 4, làm cơ sở tổ chức hội nghị vào tháng 5 tới. Thông qua đó, hiệp hội kỳ vọng sẽ đề xuất được các giải pháp thiết thực, góp phần tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và phát triển trong thời gian tới.

Chủ tịch Nguyễn Hồng Sơn cho rằng việc xây dựng và triển khai các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp không chỉ nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt mà còn tạo nền tảng vững chắc để doanh nghiệp duy trì và phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh. Qua đó, doanh nghiệp có thể đóng góp tích cực vào ngân sách nhà nước và tham gia hiệu quả vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của đất nước. Đây cũng là định hướng xuyên suốt mà lãnh đạo hiệp hội kiên định theo đuổi trong tiến trình phát triển.

dscf9072.jpg.avif

Liên quan nội dung chương trình hội nghị, Chủ tịch Nguyễn Hồng Sơn cho biết Hiệp hội đã chủ động phối hợp với Ban Khoa học và Đổi mới sáng tạo của Đại học Quốc gia Hà Nội, cùng đội ngũ chuyên gia, giảng viên nhằm cung cấp thêm các thông tin chuyên sâu, cũng như những chia sẻ thiết thực từ góc nhìn của cộng đồng doanh nghiệp.

Theo kế hoạch, Hiệp hội dự kiến mời thêm một chuyên gia tham gia phân tích, dự báo về tác động của các xung đột địa chính trị trên thế giới, đặc biệt tại khu vực Trung Đông, đối với kinh tế toàn cầu và Việt Nam. Tuy nhiên, để bảo đảm nội dung được chuẩn bị kỹ lưỡng, có chiều sâu và mang lại giá trị thực tiễn cao hơn, Hiệp hội sẽ xem xét tổ chức một buổi chuyên đề riêng hoặc lồng ghép nội dung này vào các chương trình Bữa sáng Doanh nhân phù hợp trong thời gian tới.

THÚC ĐẨY LIÊN KẾT "3 NHÀ MỞ RỘNG": ĐỪNG ĐỂ DỪNG Ở KHẨU HIỆU

Trong khuôn khổ chương trình Bữa sáng Doanh nhân, Chủ tịch Nguyễn Hồng Sơn giới thiệu đại diện Đại học Quốc gia Hà Nội trình bày một số nội dung thiết thực, gắn với những vấn đề mà cộng đồng doanh nghiệp đang quan tâm, trong đó có chủ đề phát triển ngành chè của Việt Nam. Các nhà khoa học và giảng viên đến từ Đại học Quốc gia Hà Nội cũng giới thiệu, chia sẻ những kết quả nghiên cứu mới, tập trung vào các nội dung có khả năng ứng dụng cao trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Trên cơ sở đó, các chuyên gia cũng đề xuất một số định hướng nhằm tăng cường sự gắn kết và hợp tác giữa giới khoa học với cộng đồng doanh nghiệp của hai hiệp hội, qua đó thúc đẩy quá trình chuyển giao tri thức và ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn.

PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, Phó Trưởng ban Khoa học và Đổi mới sáng tạo, Giám đốc Công viên Công nghệ tiên tiến và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội nhấn mạnh vai trò của mô hình liên kết “ba nhà”. Theo đó, một trong những nội dung quan trọng trong Nghị quyết 57 cùng với hệ thống chính sách công nghệ năm 2025 chính là mô hình “Nhà nước – nhà khoa học – doanh nghiệp”.

"Đây không phải là mô hình mới, nhưng có ý nghĩa đặc biệt trong việc thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ trong các trường đại học, đồng thời đưa các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất thông qua vai trò điều tiết, dẫn dắt của Nhà nước. Thông qua cơ chế này, các giá trị tri thức được tạo ra từ nhà trường có thể chuyển hóa thành giá trị kinh tế, đóng góp thiết thực cho sự phát triển của quốc gia", ông Kiểm khẳng định.

974682314222426881.jpg.avif

Trong năm 2025, hệ thống chính sách liên quan đã được hoàn thiện với khoảng 10 luật và hơn 20 nghị định, qua đó xác định rõ vai trò của từng chủ thể. Trong đó, doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong việc đặt hàng, xác định nhu cầu đào tạo nhân lực, đổi mới sản xuất, cải tiến mô hình kinh doanh và ứng dụng công nghệ; còn nhà trường sẽ tham gia giải quyết các bài toán thực tiễn đó.

Tuy nhiên, theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp hiện vẫn còn khá lỏng lẻo. Cụ thể, trong số 135 cơ sở giáo dục được khảo sát, có hơn 6.000 doanh nghiệp hợp tác, tương đương trung bình khoảng 60 doanh nghiệp mỗi trường. Dù vậy, gần 80% các hoạt động hợp tác mang tính ngắn hạn, chủ yếu xoay quanh học bổng và thực tập; khoảng 9% liên quan đến thực tập thực tế và 7% liên quan đến việc làm. Các hợp tác trong lĩnh vực khoa học – công nghệ còn rất hạn chế, và chỉ có 58 trường xem doanh nghiệp là đối tác chiến lược lâu dài.

PGS.TS Trương Ngọc Kiểm cũng chỉ ra một số hạn chế lớn như thủ tục hành chính còn phức tạp; chính sách chưa thực sự đồng bộ với Nghị quyết 57; sự thiếu chủ động từ cả hai phía; độ trễ trong việc đưa nghiên cứu vào thực tiễn; cùng với đó là những hạn chế về niềm tin giữa doanh nghiệp và nhà trường. Ông dẫn chứng, nhiều sản phẩm nghiên cứu đạt hiệu quả cao trong phòng thí nghiệm nhưng khi ứng dụng thực tế chỉ đạt khoảng 70–80%, trong khi doanh nghiệp lại yêu cầu tiến độ nhanh và độ chính xác cao. Bên cạnh đó, tâm lý e ngại rủi ro pháp lý cũng là một rào cản đáng kể trong quá trình hợp tác.

Về phía nhà trường, dù có nhiều cơ chế, chính sách và nguồn lực nghiên cứu, song việc tiếp cận và triển khai các nguồn kinh phí vẫn còn gặp khó khăn, quy trình kéo dài và chưa đáp ứng kịp nhu cầu thực tiễn. Đồng thời, phần lớn các mối quan hệ hợp tác hiện nay vẫn mang tính cá nhân, thiếu tính bền vững và chưa hình thành được nhiều mô hình điển hình lâu dài.

Trước thực trạng đó, Đại học Quốc gia Hà Nội thời gian qua đã tập trung hoàn thiện thể chế nội bộ, nâng cao năng lực tự chủ, xây dựng các quy định về sở hữu trí tuệ, phân chia lợi ích, thành lập doanh nghiệp khoa học – công nghệ, đồng thời phát triển các trung tâm nghiên cứu, nhóm nghiên cứu mạnh và chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao.

Đáng chú ý, nhà trường đã phát triển mô hình hợp tác “ba nhà mở rộng”, bổ sung yếu tố quốc tế và địa phương nhằm tăng cường tính kết nối và khả năng ứng dụng thực tiễn. Song song với đó, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cũng được thúc đẩy thông qua các mô hình như trung tâm chuyển giao công nghệ, vườn ươm khởi nghiệp, công viên công nghệ cao và các doanh nghiệp spin-off.

Đại học Quốc gia Hà Nội hiện cũng đang triển khai xây dựng khu đô thị đại học tại Hòa Lạc, với định hướng trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, góp phần hình thành cực tăng trưởng phía Tây Hà Nội dựa trên nền tảng tri thức và công nghệ.

dscf9180.jpg.avif

Liên quan đến hợp tác với VACOD - HBA, PGS.TS Trương Ngọc Kiểm cho biết hai bên đã thiết lập quan hệ hợp tác toàn diện từ năm 2022. Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và kỳ vọng. Trong thời gian tới, ông đề xuất tăng cường hợp tác trên bốn lĩnh vực trọng tâm, gồm: đào tạo nguồn nhân lực; phối hợp nghiên cứu nhằm giải quyết các bài toán thực tiễn từ doanh nghiệp; hỗ trợ khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp spin-off; cùng với đó là chia sẻ, khai thác cơ sở vật chất và hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại của nhà trường.

Phó Trưởng ban Khoa học và Đổi mới sáng tạo nhấn mạnh, doanh nghiệp cần chủ động đặt hàng các bài toán thực tiễn để nhà khoa học tham gia giải quyết, đồng thời tạo điều kiện để các sản phẩm nghiên cứu được thử nghiệm, hoàn thiện và tiến tới thương mại hóa.

Đồng thời, ông cũng bày tỏ mong muốn hai bên có thể thúc đẩy hợp tác ở mức độ sâu rộng hơn, hướng tới xây dựng mối quan hệ chiến lược dài hạn giữa Đại học Quốc gia Hà Nội và HBA – VACOD.

Ngay sau đó, PGS.TS Trương Ngọc Kiểm đã giới thiệu TS Bùi Xuân Thành, giảng viên, trưởng nhóm nghiên cứu hoá hữu cơ khoa hoá - Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, giảng viên Khoa Hóa học, Đại học Quốc gia Hà Nội. "TS Bùi Xuân Thành là một nhà khoa học đồng thời là doanh nhân, hiện đang phát triển doanh nghiệp startup riêng. Ông sở hữu nhiều sáng chế không chỉ được bảo hộ tại Việt Nam mà còn đăng ký độc quyền tại châu Âu. Trong số đó, nhiều sản phẩm đã đạt kết quả tích cực, có tiềm năng lớn và từng bước được đưa ra thị trường", PGS.TS Trương Ngọc Kiểm lưu ý.

Đáng nói, một trong hai nhóm sản phẩm chủ lực của TS Bùi Xuân Thành là vật liệu polymer sinh học được sản xuất từ phụ phẩm nông nghiệp. Nhóm sản phẩm này hiện đã được thương mại hóa và có mặt trên thị trường. Bên cạnh đó, ông còn có nhiều nghiên cứu, sáng chế liên quan đến lĩnh vực chè.

TS Bùi Xuân Thành đại diện một số nhà khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội giới thiệu các sản phẩm nghiên cứu có khả năng triển khai theo mô hình doanh nghiệp spin-off, phù hợp với định hướng của Nghị quyết 57.

Theo ông, các hoạt động nghiên cứu đã được triển khai trong nhiều năm, tuy nhiên chỉ trong thời gian gần đây, khi có những cơ chế, chính sách mới – đặc biệt là Nghị quyết 57, các nhà khoa học mới có điều kiện thuận lợi hơn để thành lập doanh nghiệp, đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất và tạo ra các sản phẩm phục vụ tiêu dùng. Một trong những sản phẩm tiêu biểu được TS Bùi Xuân Thành giới thiệu là sản phẩm chè.

dscf9173.jpg.avif

"Hiện nay chè Việt Nam xuất khẩu với giá trung bình khoảng 1,7 USD/kg chè khô, cho thấy giá trị còn thấp. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đã đề xuất hướng đi mới: sử dụng chè Việt Nam kết hợp với phương pháp ướp hương tự nhiên từ các loại cây cỏ, hoa quả, gia vị đặc trưng của nhiều vùng miền trên thế giới nhằm gia tăng giá trị sản phẩm", TS Bùi Xuân Thành nói.

Các sản phẩm chè này đã tham gia nhiều cuộc thi quốc tế và đạt được các giải thưởng như giải vàng, giải bạc tại các cuộc thi về chè ở châu Âu. Theo ông, việc tham gia các sân chơi quốc tế không chỉ giúp nâng cao giá trị sản phẩm mà còn góp phần quảng bá thương hiệu chè Việt Nam ra thế giới. Đặc biệt, trong bối cảnh trước đây nhiều người tiêu dùng quốc tế chưa biết đến chè Việt Nam, tương tự như việc không ít người cũng chưa nhận thức rõ Việt Nam là quốc gia sản xuất cà phê.

Trong năm nay, dự án về chè tiếp tục được triển khai, trong đó có sản phẩm đã tham gia một cuộc thi tại Paris vào cuối năm 2025 và đạt giải Ba. Sản phẩm này sử dụng chè Ô long sản xuất theo quy trình mới, kết hợp với hợp chất GABA (gamma-aminobutyric acid)- một hoạt chất có tác dụng hỗ trợ tăng cường trí nhớ, cải thiện dẫn truyền thần kinh và không gây mất ngủ. Ngoài ra, sản phẩm còn được phối trộn với các loại gia vị như vani từ Madagascar cùng một số loại thảo mộc, hoa khác, tạo nên hương vị đặc trưng. Theo TS Bùi Xuân Thành, việc phát triển các dòng sản phẩm chè theo hướng mới, khác biệt với cách làm truyền thống là hướng đi cần thiết để nâng cao giá trị cây chè, thay vì chỉ dừng lại ở việc cải thiện chất lượng.

dscf9189.jpg.avif

Bên cạnh sản phẩm chè, TS Bùi Xuân Thành cũng giới thiệu nhóm sản phẩm vật liệu sinh học được sản xuất từ phụ phẩm nông nghiệp. Cụ thể, các sản phẩm như dao, thìa, dĩa được làm từ tinh bột sắn, đường biến tính và dầu thực vật. Những sản phẩm này có khả năng phân hủy hoàn toàn trong môi trường tự nhiên, khi chôn xuống đất sẽ trở thành phân bón hữu cơ và đã đạt các chứng chỉ tiêu chuẩn châu Âu.

Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn phát triển các loại túi sinh học mang thương hiệu của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên. Các sản phẩm túi này có thể sử dụng để đựng thực phẩm hoặc rác thải rất thân thiện với môi trường.

TS Bùi Xuân Thành nhấn mạnh: "Nếu được ứng dụng trong các chương trình phân loại rác tại nguồn, đặc biệt tại Hà Nội, các túi này có thể cùng với rác hữu cơ được xử lý để tạo thành phân bón hoặc khí sinh học (biogas), không phát sinh vi nhựa và không gây phát thải khí nhà kính. Thành phần chính của sản phẩm gồm tinh bột sắn, đường biến tính và dầu thực vật, có khả năng phân hủy hoàn toàn trong khoảng bốn tháng, tạo thành compost hữu cơ và đã đạt các chứng chỉ tiêu chuẩn cao của châu Âu".

dscf9218.jpg.avif

Ông Thành cho hay, đây là một số sản phẩm tiêu biểu được nghiên cứu và phát triển tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên cũng như một số đơn vị thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian tới, các nhà khoa học sẽ tiếp tục tổng hợp, giới thiệu thêm nhiều hướng nghiên cứu mới. Đồng thời mong muốn hợp tác với doanh nghiệp để triển khai các ứng dụng thực tiễn như nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến quy trình sản xuất, qua đó gia tăng giá trị trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Liên quan đến một vấn đề được các doanh nghiệp hết sức quan tâm là giá thành sản phẩm sinh học, ông cho biết định hướng hiện nay là phát triển các sản phẩm có khả năng cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm thông thường trên thị trường. Chẳng hạn, với màng lọc sinh học thay thế màng lọc chè, giá thành dự kiến chỉ khoảng 70% so với màng lọc giấy. Đáng chú ý, các sản phẩm như cốc giấy khi kết hợp với màng sinh học có thể đưa vào quy trình tái chế giấy sau sử dụng, thay vì phải đốt bỏ như hiện nay, qua đó góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.

dscf9216.jpg.avif

TS Bùi Xuân Thành khẳng định các sản phẩm này hoàn toàn không chứa vi nhựa. Trong quá trình bảo quản thực phẩm, đặc biệt là thực phẩm tươi, màng và túi sinh học cho hiệu quả vượt trội so với túi nilon do không gây hiện tượng đọng nước, giúp rau củ, hoa quả không bị úng hay hư hỏng.

Đặc biệt, khi được bọc nhiều lớp, các loại túi này có khả năng giữ trọn mùi vị và hương thơm của hoa quả một cách hiệu quả. Ông Thành chia sẻ: “Chúng tôi đã thử nghiệm thực tế, từng bảo quản sầu riêng trong vali mà không hề phát sinh mùi ra bên ngoài”.

dscf9237.jpg.avif

Hào hứng với thuyết trình của TS Thành, bà Nguyễn Thị Thu Thủy, Phó Chủ tịch thường trực VACOD cho biết nội dung này đang nhận được sự quan tâm lớn. Trước đó, bà đã có trao đổi với một số nữ doanh nhân trong hiệp hội và dự kiến sẽ tiếp tục thảo luận sâu hơn trong cuộc họp nhóm diễn ra vào chiều cùng ngày.

Trong quá trình trao đổi, các bên bước đầu hình thành ý tưởng khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực sẵn có trong hệ sinh thái VACOD. Từ thực tế đó, một hướng đi được đề xuất là kết hợp các sản phẩm bao bì sinh học do các nhà khoa học phát triển với mô hình kinh doanh ẩm thực. Đơn cử, có thể phối hợp mô hình suất ăn kiểu bento – giao cơm trưa của một thành viên hiệp hội hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh nhà hàng để ứng dụng các loại bao bì thân thiện môi trường như bát, hộp, dụng cụ ăn uống sinh học trong khâu đóng gói và phân phối.

dscf9376.jpg.avif

"Xu hướng tiêu dùng hiện nay đang dịch chuyển mạnh sang các sản phẩm chú trọng sức khỏe, kiểm soát khẩu phần và calo. Vì vậy, mô hình kết hợp giữa suất ăn dinh dưỡng và bao bì sinh học không chỉ đáp ứng nhu cầu tiện lợi mà còn phù hợp định hướng tiêu dùng xanh, bền vững, đặc biệt với nhóm nhân viên văn phòng và phụ nữ", bà Thủy cho biết.

Phó Chủ tịch thường trực VACOD cũng gợi ý khả năng kết hợp thêm các nguyên liệu thực phẩm tự nhiên, trong đó có các loại rau, thảo mộc như tía tô của doanh nghiệp trong hiệp hội, nhằm gia tăng giá trị dinh dưỡng và tạo điểm nhấn khác biệt cho sản phẩm. Các nội dung này sẽ tiếp tục được nhóm nữ doanh nhân thảo luận trong các buổi họp chiều, tối cùng ngày và ngày hôm sau, hướng tới việc cụ thể hóa thành sản phẩm thực tế.

Bà Thủy nhấn mạnh kỳ vọng rằng, thông qua phối hợp với Công ty TNHH VACOD, có thể hình thành các sản phẩm có tính ứng dụng cao, góp phần tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp, hiệp hội và các nhà khoa học.

Từ góc độ cơ quan truyền thông, bà Nguyễn Thùy Dương, Tổng biên tập Tạp chí Thương gia, đánh giá những thuyết trình tại chương trình Bữa sáng Doanh nhân rất ý nghĩa, đưa ra nhiều gợi mở quan trọng cho cả doanh nghiệp và lĩnh vực truyền thông.

Từ các trao đổi tại tọa đàm có thể thấy nhiều vấn đề thực tiễn cần được khai thác thành ý tưởng cụ thể. Ngay trên đường tới tham dự chương trình, bà cùng một số đại biểu cũng đã trao đổi về những thay đổi lớn của môi trường kinh doanh hiện nay. Tổng Biên tập Tạp chí Thương gia cho rằng đại dịch COVID-19 đã làm thay đổi căn bản phương thức phân phối hàng hóa, khi mô hình bán hàng truyền thống dần chuyển sang hình thức kinh doanh thương mại điện tử, với sự tham gia ngày càng lớn của lực lượng shipper.

dscf9391.jpg.avif

Bà nhấn mạnh các biến động địa chính trị và xung đột trên thế giới hiện nay cũng đang tiếp tục tạo ra những thay đổi sâu sắc, buộc doanh nghiệp phải liên tục thích ứng với môi trường kinh doanh nhiều biến động. Với bản lĩnh và tính thích ứng linh hoạt, Tổng biên tập Thùy Dương tin tưởng đất nước và các doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiếp tục coi đây là động lực nhằm tìm ra giải pháp ứng phó hữu hiệu, vượt qua cuộc khủng hoảng năng lượng đang gây áp lực lên toàn thế giới hiện nay như đã từng thành công vượt qua đại dịch Covid-19...

PGS.TS Trương Ngọc Kiểm nhấn mạnh hai nội dung trọng tâm liên quan đến các sản phẩm nghiên cứu của TS Bùi Xuân Thành.

Ông cho biết TS Bùi Xuân Thành là tác giả của nhiều sáng chế về vật liệu polymer sinh học được sản xuất từ phụ phẩm nông nghiệp như bã sắn, bã mía. Từ nguồn nguyên liệu này, nhóm nghiên cứu đã phát triển nhiều sản phẩm thiết thực như hộp đựng thực phẩm, màng bọc thực phẩm, túi đựng cà phê, chè, cũng như các loại bao bì tương tự túi đựng kẹo truyền thống. Những sản phẩm này được đánh giá có tính ứng dụng cao và giàu tiềm năng phát triển.

Đặc biệt, các vật liệu sinh học này có khả năng thay thế túi nilon truyền thống, qua đó góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Theo ông Kiểm, nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực sinh học đã chỉ ra sự hiện diện đáng lo ngại của vi nhựa trong các loại thực phẩm tiêu dùng hằng ngày. Trong khi đó, các sản phẩm do nhóm nghiên cứu phát triển hoàn toàn không chứa vi nhựa, mang ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng. Ông khẳng định, vật liệu có nguồn gốc từ nông nghiệp sẽ trở thành xu hướng của tương lai, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

Liên quan sản phẩm chè, PGS.TS Trương Ngọc Kiểm cho biết đây không phải là sản phẩm chè truyền thống mà được phát triển dựa trên nền tảng công nghệ nghiên cứu hiện đại. Công nghệ này cho phép khai thác và giữ lại các hoạt chất quý trong chè, mang lại lợi ích cho sức khỏe người tiêu dùng. Đồng thời, sản phẩm còn được kết hợp với các nguyên liệu tự nhiên như vani và một số thành phần khác nhằm tạo nên hương vị phù hợp với thị hiếu của thị trường quốc tế.

Theo ông, sản phẩm chè này đã từng bước chinh phục thị trường châu Âu, qua đó cho thấy tiềm năng lớn trong việc nâng cao giá trị nông sản Việt Nam. Ông cũng bày tỏ kỳ vọng các sản phẩm sẽ nhận được sự quan tâm và hợp tác từ cộng đồng doanh nghiệp của hai Hiệp hội, mở ra cơ hội thương mại hóa và mở rộng thị trường trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, PGS.TS Trương Ngọc Kiểm nhấn mạnh mong muốn các kết quả nghiên cứu của Đại học Quốc gia Hà Nội được ứng dụng trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Cụ thể, các nghiên cứu có thể hỗ trợ doanh nghiệp cải tiến công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, tối ưu chi phí và gia tăng hiệu quả vận hành.

Ông cho rằng nhu cầu hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp là rất lớn, đồng thời kỳ vọng sẽ có thêm nhiều chương trình, dự án hợp tác cụ thể được triển khai, mang lại hiệu quả thiết thực cho cả hai bên trong thời gian tới.

Theo Chủ tịch Nguyễn Hồng Sơn, từ các nội dung đã được chia sẻ, cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trong lĩnh vực thực phẩm, chè và cà phê – cần chủ động hơn trong việc nghiên cứu, đánh giá khả năng ứng dụng các kết quả khoa học vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh. Qua đó, doanh nghiệp có thể nhận diện rõ những điểm kết nối phù hợp với giới khoa học, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm cũng như năng lực cạnh tranh trên thị trường.

Về phần mình, PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn, nguyên Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cũng chia sẻ nhiều quan điểm thẳng thắn về thực trạng cũng như những vấn đề đặt ra trong hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp.

Ông cho biết, câu chuyện liên kết này đã được đặt ra từ rất lâu, ngay từ khi ông còn là Hiệu trưởng, thậm chí là Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế. Trong suốt quá trình công tác, ông đã nhiều lần đề cập đến vấn đề này tại các diễn đàn trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có lời giải thực sự thỏa đáng cho câu hỏi vì sao đây là chủ đề được nhắc đến rất nhiều, nhưng hiệu quả hợp tác thực chất vẫn còn hạn chế.

"Dù các hội thảo, diễn đàn thường xuyên nhấn mạnh tầm quan trọng của liên kết “nhà trường - doanh nghiệp”. Trên diễn đàn cả doanh nghiệp và nhà khoa học ai cũng nói rất hay nhưng hiệu quả trên thực tế, sự hợp tác vẫn chưa đạt được chiều sâu như kỳ vọng. Đây là vấn đề cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc để tìm ra giải pháp mang tính căn cơ. Đừng để mọi việc chỉ dừng ở khẩu hiệu", PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn tâm tư.

dscf9335.jpg.avif
Quảng cáo

Phân tích nguyên nhân, ông cho rằng một phần đến từ phía doanh nghiệp, khi nhu cầu hợp tác với nhà trường chưa thực sự đủ lớn và rõ ràng. Chỉ khi doanh nghiệp có nhu cầu cụ thể, cấp thiết thì mối liên kết này mới có thể hình thành bền vững. Ở chiều ngược lại, phía nhà trường và các nhà khoa học cũng còn những hạn chế nhất định, bởi không phải mọi ý tưởng nghiên cứu đều có thể triển khai thành công trong thực tiễn.

PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn dẫn chứng, ngay cả những sản phẩm tưởng chừng đơn giản như que thử nhanh hay các giải pháp chế biến nông sản giá trị không lớn cũng gặp khó khăn khi đưa vào thực tế. Nguyên nhân không chỉ nằm ở công nghệ mà còn ở khả năng thương mại hóa, bảo vệ sản phẩm trước nguy cơ bị sao chép, cũng như đảm bảo tính cạnh tranh về giá. Điều này cho thấy các nghiên cứu cần gắn chặt hơn với nhu cầu cụ thể và điều kiện thực tế của doanh nghiệp.

Một điểm đáng chú ý khác được ông nhấn mạnh là hiện nay, những mô hình hợp tác hiệu quả nhất lại chủ yếu dựa trên quan hệ cá nhân. Liên hệ với các sản phẩm được giới thiệu tại chương trình, ông đánh giá cao những sáng kiến như vật liệu thân thiện môi trường hay túi phân hủy sinh học. Tuy nhiên, PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn nhấn mạnh yếu tố quyết định vẫn là giá thành: nếu sản phẩm có thể cạnh tranh với các sản phẩm truyền thống, đây sẽ là lợi thế rất lớn để doanh nghiệp tham gia và mở rộng thị trường.

Bên cạnh đó, ông cũng ủng hộ đề xuất tổ chức các hội nghị chuyên đề, tập trung vào những khó khăn cụ thể của doanh nghiệp. Theo ông, trong các hội thảo kinh tế hiện nay, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến biến động toàn cầu như khủng hoảng năng lượng hay xung đột địa chính trị, tiếng nói của doanh nghiệp vẫn còn chưa được phản ánh đầy đủ, trong khi đây là đối tượng chịu tác động trực tiếp nhất.

Cũng theo PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn, các cú sốc kinh tế toàn cầu, đặc biệt là biến động về năng lượng, đang ảnh hưởng mạnh đến mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Do đó, doanh nghiệp cần chủ động phản ánh khó khăn, đồng thời tham gia đề xuất chính sách phù hợp cho từng giai đoạn, từ ngắn hạn đến dài hạn.

dscf9346.jpg.avif

Đề cập đến các vấn đề cụ thể, ông nhấn mạnh thách thức về tự chủ năng lượng, nhất là trong bối cảnh chuyển dịch sang năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời. Bên cạnh đó, yếu tố lãi suất, chính sách thuế, tài chính, cũng như xu hướng chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đều đang tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp.

PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn cho rằng: "Những cú sốc lớn như đại dịch COVID-19 hay biến động kinh tế toàn cầu thường tạo ra các bước chuyển mang tính thay đổi về chất. Vì vậy, doanh nghiệp không chỉ dừng ở việc ứng phó ngắn hạn mà cần xây dựng chiến lược dài hạn để thích nghi và phát triển bền vững".

Ông cũng nhắc lại việc Việt Nam đã sớm ban hành nhiều nghị quyết lớn liên quan đến an ninh năng lượng và phát triển kinh tế, cho thấy sự chủ động trong nhận diện vấn đề. Tuy nhiên, thách thức lớn vẫn nằm ở khâu triển khai, khi nhiều nội dung chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng.

PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn cũng bày tỏ mong muốn các doanh nghiệp cùng các bên liên quan tiếp tục trao đổi sâu hơn, từ đó tìm ra những giải pháp thực chất, góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp trong thời gian tới.

Tiếp cận vấn đề từ góc nhìn thực tiễn và kinh nghiệm nhiều năm, chuyên gia Phạm Thu Hằng, nguyên Tổng thư ký VCCI đồng quan điểm câu chuyện liên kết “ba nhà” không mới, nhưng việc triển khai vẫn chưa đạt như kỳ vọng.

Bà chia sẻ thẳng thắn: “Thực ra cái đề tài liên kết ba nhà này thì chúng ta cũng trao đổi quá lâu rồi… kinh nghiệm của tôi là câu chuyện này phải đến 25 năm rồi, chứ không phải mới đây”. Theo bà, điều đáng bàn không nằm ở việc thiếu thảo luận, mà ở chỗ các bên vẫn chưa đi sâu vào những giải pháp cụ thể, có thể triển khai ngay trong thực tế.

Từ những trải nghiệm nghiên cứu, khảo sát tại các trường đại học và viện nghiên cứu ở Trung Quốc và Mỹ, bà đề xuất một số hướng đi mang tính thực hành cao, có thể áp dụng ngay tại Việt Nam.

dscf9314.jpg.avif

Trước hết, về khởi nghiệp, bà cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận quen thuộc. “Ở Việt Nam chúng ta hay nói khởi nghiệp là startup, là doanh nghiệp mới. Nhưng có một mô hình rất hay là ‘khởi nghiệp trong doanh nghiệp’,” bà Hằng nói. Theo đó, thay vì tách biệt, doanh nghiệp hoàn toàn có thể đổi mới sáng tạo từ bên trong bằng cách cử kỹ sư đến làm việc trực tiếp tại các trường đại học hoặc trung tâm đổi mới sáng tạo.

Bà Hằng cho rằng: “Doanh nghiệp càng lâu năm thì càng cần cái mới. Họ cử kỹ sư đến ngồi tại trường, tiếp xúc hằng ngày với giảng viên, nhà khoa học thì mới hiểu được trường đang làm gì, doanh nghiệp cần gì, từ đó mới tạo ra sản phẩm mới.” Theo bà, mô hình này giúp quá trình nghiên cứu – sáng tạo diễn ra liên tục, thay vì phụ thuộc vào cơ chế “đặt hàng” truyền thống. Dù đơn giản và hiệu quả, mô hình này vẫn chưa được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam.

“Nếu Đại học Quốc gia hay các trung tâm có thể bố trí không gian như vậy thì hoàn toàn khả thi,” bà Hằng nhận định, đồng thời nhấn mạnh sáng tạo chỉ thực sự nảy sinh khi có sự tương tác thường xuyên.

Ở một khía cạnh khác, bà lưu ý đến việc xây dựng các phòng thí nghiệm và trung tâm nghiên cứu chung. Theo bà, đây là hướng đi đúng nhưng cần được tổ chức theo từng lĩnh vực chuyên sâu, đồng thời cho rằng sự chuyên biệt là điều kiện để nâng cao hiệu quả nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

Bên cạnh đó, bà đặc biệt nhấn mạnh vai trò của việc tiếp nhận nhu cầu thực tiễn từ doanh nghiệp một cách có hệ thống. “Phải có một cơ chế tiếp nhận nhu cầu doanh nghiệp một cách thường xuyên, giống như một ‘điểm tiếp nhận đề bài’, để các nhà khoa học có cơ sở nghiên cứu,” bà Hằng đề xuất.

Ngoài ra, bà cũng đề cập đến vai trò của đào tạo gắn với thực hành. Theo bà, sinh viên cần được tiếp xúc sớm với môi trường doanh nghiệp, làm quen với quy trình sản xuất và máy móc. Bà Hằng cho rằng để liên kết “ba nhà” thực sự đi vào chiều sâu, cần chuyển từ tư duy khái niệm sang hành động cụ thể: “Thay vì chỉ nói về hai nhà, ba nhà hay nhiều nhà, chúng ta cần đi vào những việc cụ thể hằng ngày, hằng tháng. Nếu không, quá trình này sẽ vẫn chậm so với kỳ vọng”.

Tiếp thu ý kiến từ các đại biểu, TS.PGS Trương Ngọc Kiểm cho biết Đại học Quốc gia Hà Nội đã triển khai những bước đi cụ thể nhằm tăng cường kết nối với doanh nghiệp thông qua cơ chế đầu mối tập trung.

Theo đó, Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo Đại học Quốc gia Hà Nội được xác định là đầu mối duy nhất tiếp nhận toàn bộ nhu cầu đặt hàng từ phía doanh nghiệp. Ông nhấn mạnh quan điểm “một cửa” trong tiếp nhận và xử lý yêu cầu, nhằm khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo đầu mối – nguyên nhân khiến quá trình phối hợp trước đây còn phức tạp và kém hiệu quả.

dscf9134.jpg.avif

PGS.TS Trương Ngọc Kiểm khẳng định, doanh nghiệp có thể gửi toàn bộ nhu cầu thông qua đầu mối này, từ đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao và ứng dụng công nghệ, sử dụng chung cơ sở vật chất – trang thiết bị, đến tư vấn, hỗ trợ khởi nghiệp và các vấn đề liên quan đến thị trường.

Trên cơ sở đó, phía Đại học Quốc gia Hà Nội sẽ thực hiện phân luồng và kết nối tới các nhà khoa học phù hợp để triển khai nghiên cứu, phát triển giải pháp. Cách làm này không chỉ giúp tối ưu hóa nguồn lực mà còn đảm bảo doanh nghiệp được tiếp cận đúng chuyên gia, đúng lĩnh vực, nâng cao hiệu quả hợp tác.

Bên cạnh đó, ông cũng đề cập đến cơ chế phối hợp với các hiệp hội doanh nghiệp. Theo đó, các doanh nghiệp thành viên có thể thông qua văn phòng của các hiệp hội để kết nối với đầu mối của Đại học Quốc gia Hà Nội, qua đó hình thành một kênh liên lạc thống nhất, thuận tiện và hiệu quả hơn. Với những nhu cầu nằm trong khả năng, Đại học Quốc gia Hà Nội sẽ trực tiếp triển khai. Đối với các yêu cầu vượt ngoài năng lực, nhà trường sẽ chủ động tìm kiếm và kết nối với các đối tác phù hợp, bao gồm các trường đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của doanh nghiệp.

MỞ HƯỚNG NÂNG TẦM GIÁ TRỊ NÔNG SẢN VIỆT

Tại chương trình Bữa sáng Doanh nhân tuần này, Chủ tịch Nguyễn Hồng Sơn trân trọng giới thiệu TS Phạm S, nguyên Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Lâm Đồng, Phó Chủ tịch hội Hội Khoa học và Công nghệ Chè Việt Nam. Người đứng đầu VACOD - HBA cho biết, đây chuyên gia có nhiều năm nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực nông nghiệp. "Hơn một thập kỷ trước, TS Phạm S đã có nhiều kết quả nghiên cứu nổi bật, trong đó có nghiên cứu về cây bơ tại Lâm Đồng và hiện nay tiếp tục đi sâu vào các lĩnh vực chè, cà phê, đặc biệt là phát triển các sản phẩm cà phê với nhiều giá trị và thông tin mới", Chủ tịch Nguyễn Hồng Sơn nêu rõ.

dscf9141.jpg.avif

Mở đầu phần chia sẻ tại chương trình “Bữa sáng Doanh nhân”, TS Phạm S bày tỏ niềm vui khi có dịp gặp lại đông đảo các doanh nhân, trong đó nhiều người ông đã quen biết từ 10–15 năm trước.

TS Phạm S là một trong ít những nhà quản lý có quá trình công tác kéo dài qua ba nhiệm kỳ, từ năm 2011 đến tháng 5/2025. Trong suốt thời gian công tác, ông đồng thời đảm nhiệm vai trò của một nhà quản lý, nhà khoa học và nhà giáo dục, luôn duy trì cường độ làm việc cao để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ được giao.

Song song với công tác quản lý, TS Phạm S đã liên tục duy trì hoạt động nghiên cứu khoa học, hợp tác với nhiều tổ chức trong nước và quốc tế, triển khai các công trình có giá trị, đóng góp thiết thực cho quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế.

Chia sẻ về lĩnh vực nghiên cứu, TS Phạm S cho biết cách đây 29 năm, trong bối cảnh giá trị chè Việt Nam còn thấp, ông đã nghiên cứu và phát triển giống chè LĐ97 (Lâm Đồng, năm 1997). Giống chè này sau đó được Diễn đàn Chè thế giới ghi nhận là một trong những đóng góp quan trọng cho ngành chè toàn cầu. Từ nền tảng đó, hiện nay đã phát triển nhiều dòng sản phẩm như chè xanh, chè đen, trà ô long, matcha… với chất lượng cao và được thị trường đón nhận.

Tiếp đó, trong khoảng 19 năm qua, ông tiếp tục nghiên cứu và phát triển giống bơ LĐ034. Đây là giống bơ có hình thái khác biệt so với các giống phổ biến trên thế giới (thường có dạng hình trứng), với hình dáng thuôn dài giống trái bầu. Giống bơ này được đánh giá cao về chất lượng, độ béo và đã được tiêu dùng rộng rãi trên thị trường, đặc biệt vào mùa thu hoạch tháng 4.

Liên quan đến ngành cà phê, TS Phạm S nhận định trong thời gian tới, ngành cà phê toàn cầu sẽ chịu tác động mạnh từ ba yếu tố chính. "Thứ nhất là biến đổi khí hậu, với các hiện tượng như hạn hán, lũ lụt, sương giá ảnh hưởng trực tiếp đến các vùng trồng cà phê, đặc biệt là cà phê Arabica – chiếm khoảng 35% diện tích toàn cầu, chủ yếu tại Trung và Nam Mỹ. Thứ hai là sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng, khi xu hướng trẻ hóa diễn ra mạnh mẽ, gần như toàn bộ giới trẻ tại Việt Nam và nhiều quốc gia đều sử dụng cà phê. Thứ ba là sự phân hóa rõ rệt giữa cà phê thông thường và cà phê hữu cơ, với mức chênh lệch giá trị ngày càng lớn". TS Phạm S phân tích.

dscf9250.jpg.avif

Ông cho biết, trong khi thế giới tập trung vào cà phê Arabica, thì tại Việt Nam cà phê Robusta chiếm tới khoảng 93%. Dù sản lượng đạt khoảng 1,8 triệu tấn, với kim ngạch xuất khẩu khoảng 8,4 tỷ USD, nhưng thương hiệu cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế vẫn chưa tương xứng, chủ yếu dừng ở vai trò cung cấp nguyên liệu – tương tự như câu chuyện của ngành chè.

Từ thực tiễn đó, ông đã nghiên cứu và phát triển dòng sản phẩm “cà phê bột bông”, được xem là một hướng đi mới. Theo ông, sản phẩm này kết hợp đặc tính của cả Arabica và Robusta, có màu cánh gián, hương thơm tự nhiên, vị thanh nhẹ, hậu vị tốt và đặc biệt có hàm lượng caffeine thấp, giúp người dùng có thể thưởng thức mà không gây mất ngủ. TS Phạm S cũng cho biết đây là sản phẩm còn khá mới, chưa được nhiều người trải nghiệm.

Bên cạnh cà phê, trong khoảng 5 năm gần đây, ông tiếp tục nghiên cứu phát triển một sản phẩm thay thế rượu vang truyền thống. Ông thông tin rằng hiện nay thế giới có khoảng 150.000 nhà máy sản xuất rượu vang, chủ yếu từ quả nho. Tuy nhiên, việc trồng nho đang gặp nhiều khó khăn do biến đổi khí hậu, sâu bệnh, đặc biệt là các loại virus, khiến việc phát triển rượu vang hữu cơ trở nên thách thức.

Trong khi đó, nhu cầu tiêu dùng rượu vang toàn cầu vẫn tăng từ 15–17%, do đây là sản phẩm có lợi cho sức khỏe nếu sử dụng hợp lý, đặc biệt tốt cho tim mạch và huyết áp. Tuy nhiên, Việt Nam hiện phải nhập khẩu rất nhiều rượu vang mỗi năm, với chi phí cao do thời gian vận chuyển kéo dài khoảng 45 ngày.

Xuất phát từ thực tế này, Phó Chủ tịch hội Hội Khoa học và Công nghệ Chè Việt Nam đã nghiên cứu và phát triển một loại “vang rừng”, không sử dụng nho mà được sản xuất từ các nguyên liệu tự nhiên trong hệ sinh thái rừng, phân bố chủ yếu từ Quảng Nam, Đà Nẵng đến các tỉnh phía Nam. Theo ông, nguồn nguyên liệu này có chất lượng tốt, thậm chí có thể thay thế nho trong sản xuất rượu vang. Sản phẩm hiện đã được xây dựng thương hiệu và đang trong quá trình hoàn thiện.

dscf9415.jpg.avif

Sau khi kết thúc nhiệm vụ quản lý, TS Phạm S cho biết ông vẫn tiếp tục hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục, triển khai các định hướng của Nghị quyết 57 về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, ông tham gia Hội đồng trường của 5 trường đại học, giữ vai trò cố vấn chiến lược và hợp tác với nhiều trường đại học quốc tế, trong đó có các đối tác tại Hàn Quốc và Trung Quốc.

Kết thúc phần chia sẻ, vị chuyên gia này cảm ơn ban tổ chức đã tạo điều kiện để ông có cơ hội gặp gỡ, trao đổi với cộng đồng doanh nghiệp; đồng thời bày tỏ mong muốn sẽ có thêm nhiều cơ hội hợp tác với doanh nghiệp và các hiệp hội, nhằm đưa các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển và hội nhập quốc tế của đất nước.

Tiếp nối mạch trao đổi, bà Bùi Thị Hạnh Hiếu, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Kinh doanh Chế biến Nông sản Bảo Minh, cho biết doanh nghiệp của bà là đơn vị có truyền thống lâu đời, phát triển qua nhiều thế hệ trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh gạo. Đến nay, Bảo Minh đã trải qua bốn thế hệ kế thừa và phát triển, không chỉ tập trung vào sản phẩm gạo mà còn mở rộng sang các mặt hàng nông sản, hoa màu khác.

Hiện nay, sản phẩm của doanh nghiệp đã được phân phối rộng rãi trên các hệ thống bán lẻ hiện đại (kênh MT), đặc biệt là các chuỗi siêu thị, với mạng lưới khoảng 8.000 điểm bán trên toàn quốc, đồng thời phát triển mạnh trên các nền tảng thương mại điện tử. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng đẩy mạnh xuất khẩu và tiêu thụ trong nước, từng bước mở rộng thị trường, hướng tới phủ hàng hóa trên toàn bộ 32 tỉnh, thành.

dscf9267.jpg.avif

Trong không khí sôi nổi của buổi thảo luận, bà Hiếu bày tỏ sự quan tâm và kỳ vọng vào việc ứng dụng công nghệ trong quản trị và phát triển doanh nghiệp. Theo bà, trong quá trình chuyển đổi số, doanh nghiệp không chỉ chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn cần xây dựng các nền tảng số như cổng kết nối, hệ thống tích hợp dữ liệu, cũng như ứng dụng các giải pháp quản lý bán hàng, vận hành và thương mại điện tử như Sapo, Haravan... Đồng thời, các giải pháp về quản trị kho, quản trị năng suất cũng là những yếu tố quan trọng cần được hoàn thiện; doanh nghiệp mong muốn có thêm cơ hội trao đổi, học hỏi từ các chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp.

Lãnh đạo Công ty Cổ phần Kinh doanh Chế biến Nông sản Bảo Minh cũng đặc biệt quan tâm đến các sản phẩm thân thiện với môi trường, nhất là các dòng sản phẩm thay thế nhựa, góp phần giảm thiểu rác thải. Bà Hiếu nhấn mạnh, những sản phẩm này hoàn toàn có thể được phổ cập nhanh thông qua các kênh bán hàng trực tuyến.

"Về hoạt động kinh doanh, để đưa sản phẩm ra thị trường hiệu quả, doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đầy đủ, đặc biệt là các tiêu chí về an toàn thực phẩm, đồng thời thiết lập cấu trúc giá hợp lý từ nhà sản xuất đến hệ thống phân phối tại các địa phương, quận, huyện, đi kèm với các chính sách phù hợp", bà Hiếu cho biết.

Với niềm yêu thích cà phê, doanh nghiệp cũng đã nghiên cứu và phát triển công thức riêng, kết hợp giữa Arabica và Robusta theo tỷ lệ phù hợp, tạo nên hương vị cân bằng, hơi chua nhẹ, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Sản phẩm cà phê của doanh nghiệp được khách hàng đón nhận tích cực, với mức giá khoảng 150.000–200.000 đồng, hướng tới tiêu chí cạnh tranh với cà phê ngoài hàng, giúp người tiêu dùng có thể thưởng thức cà phê chất lượng ngay tại nhà.

Trong thời gian tới, bà Hiếu cho biết doanh nghiệp Bảo Minh dự kiến được UBND TP. Hà Nội hỗ trợ quỹ đất khoảng 2 ha để xây dựng nhà máy chế biến nông sản theo hướng nông nghiệp sạch, quy mô hiện đại.

Bà cũng đánh giá cao vai trò của Hiệp hội trong việc kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp, cho rằng đây là môi trường uy tín, nơi các doanh nhân tham gia với tinh thần trách nhiệm, tâm huyết và tầm nhìn phát triển. Bà Hiếu bày tỏ mong muốn tiếp tục được học hỏi, đồng hành và đóng góp nhiều hơn cho hoạt động chung của Hiệp hội trong thời gian tới.

Bà Trần Thị Mai Phương, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Phương Nam Holdings cho biết sau khoảng 5 năm hoạt động, đặc biệt khi lắng nghe các ý kiến từ giới khoa học và các phiên thảo luận, bà có thêm nhiều góc nhìn mới về ngành trà – lĩnh vực mà doanh nghiệp đang theo đuổi. Theo bà, đây vốn được xem là ngành kinh doanh truyền thống, nhưng nếu phân tích sâu, không chỉ đơn thuần là hoạt động thương mại mà còn là lĩnh vực có hàm lượng nghiên cứu khoa học rất lớn.

Bà Trần Thị Mai Phương nhấn mạnh vai trò của việc kết hợp giữa doanh nghiệp và hoạt động nghiên cứu, đặc biệt trong phát triển các dòng sản phẩm trà đặc sản như trà cổ thụ, trà shan tuyết, hướng tới xuất khẩu và nâng cao giá trị trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, theo bà, các doanh nghiệp trà hiện nay vẫn đang trong tình trạng “tự bơi”, thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu, đào tạo và sản xuất.

dscf9296.jpg.avif

Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Phương Nam Holdings đề xuất, cần thúc đẩy mô hình liên kết “ba nhà” gồm Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp. "Trong đó tăng cường phối hợp giữa các hiệp hội như VACOD – HBA với các trường đại học, viện nghiên cứu để nghiên cứu sâu hơn về ngành trà, đồng thời mở rộng sang cà phê và các nông sản khác, nhằm bảo tồn giá trị và nâng cao chuỗi giá trị sản phẩm" bà Mai Phương nhấn mạnh.

Bà Phương cũng dẫn số liệu cho thấy kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam hiện vẫn còn thấp so với tiềm năng. Dù sản lượng lớn, nhưng giá trị xuất khẩu chỉ đạt khoảng hơn 200 triệu USD, với giá trung bình khoảng 1,7 USD/kg, tương đương chưa đến 50.000 đồng/kg như vậy là quá thấp. Trong khi đó, chi phí thuê nhân công hái chè đã ở mức khoảng 50.000 đồng/kg.

Từ đó, bà đặt vấn đề, với mức giá bán thấp như hiện nay, sau khi trừ chi phí lao động, đặc biệt là chi phí thu hái cả người nông dân và doanh nghiệp đều gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, theo bà, cần thiết phải nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm trà, từ giá trị nguyên liệu đến giá trị thương hiệu và câu chuyện sản phẩm, qua đó từng bước nâng tầm thương hiệu trà Việt trên thị trường quốc tế.

Bà Phương nhấn mạnh mong muốn tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp: doanh nghiệp chủ động về vốn và thử nghiệm sản xuất, trong khi Nhà nước và các cơ sở nghiên cứu cần đồng hành mạnh mẽ hơn trong nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và phát triển ngành hàng theo hướng bài bản, bền vững.

Cũng tại buổi tọa đàm, bà Thạch Liên, chủ doanh nghiệp thương hiệu máy lọc nước Primer Ion Kiềm đã có những nhìn nhận thẳng thắn, xuất phát từ trải nghiệm thực tiễn của một doanh nghiệp trẻ, xoay quanh câu chuyện kết nối giữa nhà trường, nhà khoa học và doanh nghiệp, đặc biệt là việc đưa các sáng chế từ nghiên cứu vào ứng dụng và thương mại hóa trên thị trường.

Bà Liên cho biết chủ đề kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp, đặc biệt là vấn đề liên quan đến sáng chế và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, là nội dung mà bà đặc biệt quan tâm. Xuất phát điểm là một cựu sinh viên ngành kinh tế, bà chia sẻ mình luôn được truyền cảm hứng về khát vọng đưa trí tuệ Việt Nam phát triển, tạo ra những sản phẩm mới mang hàm lượng sáng tạo cao, có thể cạnh tranh tại thị trường trong và ngoài nước.

dscf9408.jpg.avif

Theo bà, trong quá trình khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp, bà nhận thấy đội ngũ trí thức Việt Nam có năng lực sáng tạo rất lớn, không thua kém quốc tế. Nhiều sản phẩm, sáng chế có giá trị đã được hình thành từ các viện nghiên cứu và trường đại học. Bản thân doanh nghiệp của bà trong quá trình hoạt động cũng đã tiếp cận và sở hữu một số bằng sáng chế, từ đó phát triển thành sản phẩm thương mại phục vụ người tiêu dùng.

Tuy nhiên, từ thực tiễn triển khai, khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường vẫn còn khá lớn. Việc đưa một sáng chế từ phòng thí nghiệm đến sản phẩm hoàn chỉnh phục vụ người tiêu dùng không hề đơn giản, đòi hỏi rất nhiều nguồn lực về tài chính, công nghệ, quản trị và đặc biệt là năng lực thương mại hóa.

Từ góc nhìn của một doanh nghiệp trẻ, bà đề xuất cần có cơ chế linh hoạt hơn trong việc chuyển giao và thương mại hóa sáng chế, trong đó có thể xem xét việc cho phép chuyển nhượng hoặc bán lại bằng sáng chế cho các doanh nghiệp có năng lực và chiến lược phát triển phù hợp. "Chỉ khi doanh nghiệp thực sự sở hữu và đầu tư nghiêm túc, sáng chế mới có thể được phát triển nhanh chóng, đi vào thị trường một cách hiệu quả và bền vững", bà Liên bày tỏ.

Bà cũng nhấn mạnh, trong bối cảnh thị trường thay đổi rất nhanh, đặc biệt sau tác động của COVID-19 và quá trình chuyển đổi số mạnh mẽ, tốc độ đưa sản phẩm ra thị trường là yếu tố then chốt. Vì vậy, cần ưu tiên mô hình chuyên môn hóa: nhà khoa học tập trung nghiên cứu và sáng tạo, còn doanh nghiệp đảm nhiệm vai trò thương mại hóa và phát triển thị trường. Sự phân vai rõ ràng sẽ giúp tối ưu hiệu quả và giảm độ trễ trong ứng dụng khoa học công nghệ.

Bên cạnh đó, bà cũng hy vọng các trường đại học và viện nghiên cứu không chỉ dừng ở việc tạo ra sáng chế mà còn cần có chiến lược kết nối chặt chẽ hơn với doanh nghiệp, nhằm đảm bảo các sản phẩm nghiên cứu được ứng dụng nhanh chóng, đặc biệt trong những lĩnh vực có tác động trực tiếp tới đời sống như môi trường, sức khỏe và tiêu dùng.

CẦN LỜI GIẢI THỰC CHẤT CHO BÀI TOÁN LIÊN KẾT

Kết luận buổi toạ đàm, Chủ tịch Nguyễn Hồng Sơn nhìn nhận qua các phần trình bày của TS Bùi Xuân Thành, cùng những trao đổi từ PGS.TS Trương Ngọc Kiểm và đặc biệt là các phân tích sâu sắc của PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn, bức tranh về mối liên kết “ba nhà” đã được nhìn nhận rõ hơn. Tuy nhiên dù được nhắc đến trong thời gian dài, nhưng trên thực tế vẫn chủ yếu dừng ở mức khẩu hiệu, chưa tạo ra hiệu quả thực chất như kỳ vọng.

dscf9418.jpg.avif

Theo Chủ tịch Sơn, những hạn chế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó nổi bật là hai nút thắt lớn.

Thứ nhất là cơ chế hợp tác, đặc biệt liên quan đến tài chính. Nếu nhà khoa học đã có sẵn kết quả nghiên cứu, doanh nghiệp có thể xem xét đầu tư để chuyển giao và thương mại hóa. Ngược lại, khi doanh nghiệp có nhu cầu cụ thể và đủ nguồn lực, việc đặt hàng nghiên cứu hoàn toàn khả thi. Tuy nhiên, trong trường hợp cả hai phía đều chưa chủ động, thiếu nhu cầu rõ ràng và thiếu nguồn lực tài chính, thì việc kết nối gần như bị “đứt gãy” do không có cơ chế duy trì phù hợp.

Thứ hai là các rào cản trong cơ chế nghiên cứu hiện hành. Doanh nghiệp nhiều khi chưa sẵn sàng đặt hàng, trong khi nhà khoa học phải trải qua nhiều thủ tục phê duyệt phức tạp, quy trình tài chính chưa linh hoạt, dẫn đến độ trễ lớn giữa nghiên cứu và ứng dụng, khiến kết quả chưa thực sự bám sát nhu cầu thực tiễn.

dscf9127.jpg.avif

Chủ tịch Nguyễn Hồng Sơn cũng ghi nhận những chuyển động tích cực từ chính sách, đặc biệt là các định hướng lớn về khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, cùng việc hình thành các quỹ hỗ trợ. Đây được xem là giải pháp quan trọng để tháo gỡ nút thắt tài chính, khi doanh nghiệp đưa ra bài toán, nhà khoa học triển khai nghiên cứu và nguồn lực được hỗ trợ từ quỹ. Dù còn vướng mắc trong triển khai, ông kỳ vọng từ năm 2026, cơ chế này sẽ từng bước đi vào thực chất và phát huy hiệu quả rõ nét hơn.

Ở góc độ hiệp hội, ông khẳng định vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và giới khoa học, đặc biệt nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ – nhóm đang thiếu hụt nghiêm trọng nguồn lực cho hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

dscf9150.jpg.avif

Người đứng đầu VACOD- HBA khẳng định hiệp hội dự kiến tổ chức một hội nghị chuyên đề theo hướng thực chất, mở rộng thành phần tham gia gồm doanh nghiệp, nhà khoa học và cơ quan quản lý, nhằm tập trung tháo gỡ các vấn đề thiết thực như thuế, tài chính, tiếp cận vốn và cơ chế chính sách.

Đáng chú ý, ông đề cập vai trò của hệ thống ngân hàng trong việc đồng hành cùng doanh nghiệp, đồng thời đề nghị các tổ chức tín dụng chuẩn bị các đề án cụ thể để tham gia hỗ trợ, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

"Mục tiêu xuyên suốt của việc là tổ chức những diễn đàn không mang tính hình thức, mà thực sự tạo ra giải pháp, kết quả cụ thể và giá trị thiết thực cho cộng đồng doanh nghiệp", Chủ tịch Nguyễn Hồng Sơn khẳng định.

Theo https://thuonggiaonline.vn/ Copy

Trụ sở chính: 132 Nguyễn Tuân - P.Thanh Xuân Trung - Q. Thanh Xuân - TP.Hà Nội

ĐT: 024.35571875/76/77 – Fax: 024.35571874

Email: vanphong.vacod@gmail.com

Website: vacod.vn

Các đơn vị trực thuộc

Văn phòng Vacod miền trung - Tp Đà Nẵng

Địa chỉ: Số 278/4 Nguyễn Văn Linh - Thành phố Đà Nẵng
ĐT: 0236.3652692 - Fax: 0236.3653208

Văn phòng Vacod miền nam - Tp Hồ Chí Minh

Địa chỉ: Số 6A Phạm Đình Toái, Phường 6, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
ĐT: 0983358188

Công ty TNHH MTV Vacod

Trụ sở chính: 132 Nguyễn Tuân - Thanh Xuân - Hà Nội
ĐT: 024.35571875/76/77 – Fax: 024.35571874

Viện nghiên cứu phát triển hàng tiêu dùng Việt Nam

Trụ sở chính: 132 Nguyễn Tuân - Thanh Xuân - Hà Nội
ĐT: 024.35571875/76/77 – Fax: 024.35571874

Cơ quan ngôn luận: Tạp chí Thương Gia

Địa chỉ: Số 14, Khu 249A Thụy Khuê, Quận Tây Hồ, Hà Nội
ĐT: 0879 504 666 - Email: toasoan@thuonggiaonline.vn
Website: https://thuonggiaonline.vn/