
Trước đó, chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô đến năm 2025, tầm nhìn 2035 cũng đã được phê duyệt mà điểm nổi bật nhất là phát huy mọi thành phần kinh tế để phát triển ngành công nghiệp này, chứ không xây dựng và xác định những doanh nghiệp (DN) nòng cốt như trước đây.

Điểm nhấn từ “giá trị”
Ngoài việc tiếp tục xác định rõ quan điểm phát triển công nghiệp ô tô thành ngành công nghiệp quan trọng để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước thì một trong những nội dung được nhiều DN quan tâm là: “Khuyến khích phát triển ngành công nghiệp ô tô thông qua hệ thống chính sách minh bạch, ổn định, phù hợp trên cơ sở phát huy nội lực của các thành phần kinh tế trong nước; chú trọng liên kết, hợp tác với các tập đoàn sản xuất ô tô lớn trên thế giới để tham gia có hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành công nghiệp ô tô thế giới.” Như vậy, nếu so sánh với quy hoạch trước đây thì để phát triển ngành công nghiệp này, không xác định những “doanh nghiệp nòng cốt” mà chủ yếu là các DNNN, mà DN thuộc thành phần nào cũng được tham gia. Điều này được xem là phù hợp với thực tế hiện nay, khi mà nhiều DN cổ phần, tư nhân trong nước đã khẳng định được tiềm năng, năng lực của mình, vươn lên trở thành những nhà sản xuất, lắp ráp ô tô mạnh, chiếm thị phần lớn trong nước như Trường Hải, Vinaxuki hay TMT và hàng loạt các liên doanh, DN 100% vốn nước ngoài…
Mục tiêu cụ thể về dự kiến tỷ trọng số lượng xe sản xuất trong nước so với tổng nhu cầu nội địa, sản lượng xe và tốc độ tăng trưởng các năm, dự kiến xuất khẩu xe nguyên chiếc và phụ tùng… dã được xác định (Xin xem bảng). Tuy nhiên, một trong những mục tiêu được nhiều DN, nhất là các DN liên doanh, có vốn đầu tư nước ngoài quan tâm là cách tính tỷ lệ nội địa hóa dựa theo giá trị. Quy hoạch lần này xác định rõ mục tiêu về công nghiệp hỗ trợ là đến giai đoạn 2020, cơ bản hình thành ngành công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất ô tô, phấn đấu đáp ứng 30 - 40% (về giá trị) nhu cầu linh kiện, phụ tùng của sản xuất, lắp ráp xe ô tô trong nước, chế tạo được một số chi tiết quan trọng trong bộ phận truyền động, hộp số, động cơ, từng bước tham gia hệ thống cung ứng các linh kiện, phụ tùng trong chuỗi gía trị toàn cầu của công nghiệp ô tô thế giới. Các giai đoạn tiếp theo, tỷ lệ này được tăng lên và đến giai đoạn 2026 -2030 công nghiệp hỗ trợ phát triển cả về quy mô sản lượng và chủng loại sản phẩm, đảm bảo cung ứng trên 50% về giá trị nhu cầu, phấn đấu trở thành nơi cung cấp quan trọng một số loại linh kiện, phụ tùng cho ngành công nghiệp ô tô khu vực và thế giới…
Giải pháp và xu hướng
Bản quy hoạch này cũng đã đề cập đến các giải pháp và các cơ chế chính sách đối với khu vực sản xuất, khu vực tiêu dùng và nhiều giải pháp khác, trong đó những điểm mới là xác định việc thực hiện nhất quán hệ thống chính sách đã và sẽ ban hành trong thời gian tối thiểu 10 năm, ban hành phí môi trường cao đối với xe có dung tích động cơ trên 3.0 lít… Điểm mới đáng chú ý là việc bổ sung dự án sản xuất xe nông dụng nhỏ đa chức năng vào danh mục các dự án đầu tư được hưởng các chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp. Riêng dự ản sản xuất xe thân thiện môi trường (Xe tiết kiệm nhiên liệu, xe hybrid, xe sử dụng nhiên liệu sinh học, xe chạy điện…) được áp dụng chính sách ưu đãi cao nhất hiện hành...
Các giải pháp đưa ra còn chung chung, chưa đủ mạnh để khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào ngành công nghiệp ô tô, trong khi xu hướng nhập khẩu đang ngày càng gia tăng. |
Nguyễn Dũng
