Bức tranh kinh tế quý 1 năm 2026 qua các con số

Do tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường nên đã gây biến động mạnh về giá năng lượng, gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng áp lực lạm phát.

Các tổ chức quốc tế đưa ra những đánh giá khác nhau về tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Đông Nam Á trong năm 2026 nhưng đều cho rằng tăng trưởng của Việt Nam cao nhất khu vực. Theo đó, tăng trưởng kinh tế trong năm 2026 của Việt Nam được dự báo khoảng từ 6 - 7,6%.

Bên cạnh đó, năm 2026 cũng là năm đầu tiên nước ta triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026 - 2030 với mục tiêu phấn đấu tăng trưởng bình quân năm đạt từ 10% trở lên, mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước.

TỔNG SẢN PHẨM QUỐC NỘI

gdp-cua-viet-nam-quy-1-nam-2026.jpg.avif

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2026 ước tăng 7,83% so với cùng kỳ năm 2025 (cùng kỳ tăng 7,07%). Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,58%, đóng góp 5,6% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,92%, đóng góp 44,08%; Khu vực dịch vụ tăng 8,18%, đóng góp 50,32%.

Về cơ cấu nền kinh tế quý I/2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,89%; Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,15%; Khu vực dịch vụ chiếm 43,45%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,51%.

Về sử dụng GDP quý I/2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,45% so với cùng kỳ năm ngoái, tích lũy tài sản tăng 7,18%, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 19,85%, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 24,27%.

CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2026 tăng 1,23% so với tháng 2/2026 do giá xăng dầu trong nước tăng cao theo giá nhiên liệu thế giới, cùng với giá vật liệu xây dựng tăng do chi phí nguyên liệu đầu vào và vận chuyển gia tăng. So với tháng 12/2025, CPI tháng 3/2026 tăng 2,44% và tăng 4,65% so với cùng kỳ năm 2025, đây là mức tăng CPI cao nhất của tháng 3 so với cùng kỳ năm ngoái trong 5 năm qua.

Lũy kế quý I/2026, CPI tăng 3,51% so với cùng kỳ năm 2025; lạm phát cơ bản tăng 3,63%.

chi-so-cpi-cua-viet-nam-thang-3-nam-2026.jpg.avif

Trong mức tăng 1,23% của CPI tháng 3/2026 so với tháng trước, có 9 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng và 2 nhóm hàng có chỉ số giá giảm. Ở chiều ngược lại, giá dịch vụ rửa xe, bơm xe giảm 0,96%; dịch vụ trông giữ xe giảm 0,85%; giá xe ô tô mới giảm 0,38%; xe ô tô đã qua sử dụng giảm 0,19% do nhu cầu giảm sau Tết Nguyên đán.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I/2026 tăng 3,51% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,69%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,55%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,68%; Giáo dục tăng 3,21%; Đồ uống và thuốc lá tăng 2,8%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,13%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,83%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,63%; Giao thông tăng 1,07%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,89%; Thông tin và truyền thông giảm 0,2%.

Bên cạnh đó, yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI quý I/2026 là do: Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông quý I/2026 giảm 0,2% so với cùng kỳ năm 2025, tác động làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá một số thiết bị công nghệ giảm nhờ nguồn cung dồi dào và cạnh tranh giữa các nhà phân phối gia tăng.

Lạm phát cơ bản tháng 3/2026 tăng 0,47% so với tháng 2/2026 và tăng 3,96% so với cùng kỳ năm ngoái. Bình quân quý I/2026, lạm phát cơ bản tăng 3,63% so với cùng kỳ năm 2025, cao hơn mức tăng 3,51% của CPI bình quân chung, chủ yếu do giá lương thực là yếu tố tác động giảm CPI chung nhưng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

Tính đến ngày 28/3, bình quân giá vàng thế giới ở mức 4.909,01 USD/ounce, giảm 2,27% so với tháng 2/2026. Trong tháng, giá vàng thế giới giảm mạnh sau giai đoạn tăng cao trước đó do tác động kết hợp của các yếu tố kinh tế và tâm lý thị trường trong bối cảnh địa chính trị phức tạp.

Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 3/2026 tăng 1,54% so với tháng trước, chủ yếu do giá vàng được các doanh nghiệp kinh doanh điều chỉnh tăng trong bối cảnh cung cầu thị trường trong nước và yếu tố tâm lý nhà đầu tư mặc dù giá vàng thế giới giảm. So với cùng kỳ năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 82,77%; so với tháng 12/2025 tăng 18,81%; bình quân quý I/2026, chỉ số giá vàng tăng 82,7%.

Tính đến ngày 28/3, chỉ số giá USD trên thị trường quốc tế đạt mức 99,29 điểm, tăng 2,03% so với tháng 2/2026. Nguyên nhân chủ yếu do xung đột vũ trang tại Trung Đông làm gia tăng nhu cầu nắm giữ USD như tài sản an toàn. Bên cạnh đó, giá vàng giảm cũng góp phần thúc đẩy dòng vốn chuyển sang đồng USD.

Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 26.315 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2026 tăng 0,72% so với tháng 2/2026; tăng 2,25% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 0,47% so với tháng 12/2025; Bình quân quý I/2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,58%.

HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ

tong-muc-ban-le-hang-hoa-va-doanh-thu-dich-vu-tieu-dung-trong-thang-3-nam-2026.jpg.avif

Nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng trong các dịp lễ, Tết cùng với số lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng là những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng ngành thương mại, dịch vụ trong quý I/2026.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2026 ước tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung quý I/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 10,9% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 13,3% và doanh thu du lịch lữ hành tăng 12,5%.

tong-muc-ban-le-hang-hoa-va-doanh-thu-dich-vu-tieu-dung-trong-quy-1-nam-2026.jpg.avif

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành trong tháng ước đạt 638,6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, doanh thu nhóm hàng xăng, dầu tăng 23,3% so với cùng kỳ năm ngoái; Hàng lương thực, thực phẩm tăng 10,7%; Hàng may mặc tăng 9,3%; Vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 7,7%; Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 7,5%; Dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 13,9%; Du lịch lữ hành tăng 11,5% và các nhóm hàng dịch vụ khác tăng 7,6%.

Lũy kế quý I/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 1.902,8 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm 2025, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7%.

HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP

Trong tháng, cả nước có gần 22 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký 224,9 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký gần 98,4 nghìn lao động, tăng 94,1% về số doanh nghiệp, tăng 69,4% về số vốn đăng ký và tăng 65,7% về số lao động so với tháng 2/2026. So với cùng kỳ năm 2025, tăng 40,5% về số doanh nghiệp, tăng 78,1% về số vốn đăng ký và tăng 12,4% về số lao động.

Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 10,2 tỷ đồng, giảm 12,8% so với tháng trước và tăng 26,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Bên cạnh đó, cả nước còn có hơn 7,9 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 28,3% so với tháng trước và giảm 13,3% cùng kỳ năm 2025.

tinh-hinh-thanh-lap-doanh-nghiep-trong-thang-3-nam-2026.jpg.avif

Cũng trong tháng 3/2026, có 5.059 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 18,8% so với tháng 2/2026 và tăng 15,2% so với cùng kỳ năm 2025; Có 6.304 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 80,5% và tăng 28,7%; Có 3.818 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 16% và tăng 78,7%.

Lũy kế quý I/2026, cả nước có hơn 57,4 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký gần 538,6 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký hơn 265,9 nghìn lao động, tăng 57,8% về số doanh nghiệp, tăng 51% về số vốn đăng ký và tăng 16,5% về số lao động so với cùng kỳ năm 2025. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong quý I/2026 đạt 9,4 tỷ đồng, giảm 4,3% so với cùng kỳ năm ngoái.

tinh-hinh-thanh-lap-doanh-nghiep-trong-quy-1-nam-2026.jpg.avif

Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong quý I/2026 là hơn 1,3 triệu tỷ đồng, giảm 5,1% so với cùng kỳ năm 2025. Bên cạnh đó, cả nước có hơn 38,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 5,7% so với cùng kỳ năm ngoái), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong quý I/2026 lên 96 nghìn doanh nghiệp, tăng 31,7% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân một tháng có 32 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Tính chung trong quý I/2026, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là gần 63,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm 2025; Hơn 16,6 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 44,9%; Hơn 11,7 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 98,8%. Bình quân một tháng có 30,6 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

CÁN CÂN XUẤT - NHẬP KHẨU

cac-thi-truong-xuat-khau-nhap-khau-lon-nhat-cua-viet-nam-trong-quy-1-nam-2026.jpg.avif

Trong tháng 3/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 93,55 tỷ USD, tăng 39,2% so với tháng 2/2026 và tăng 23,9% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế quý I/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 249,5 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó xuất khẩu tăng 19,1%; nhập khẩu tăng 27%.

Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 3,64 tỷ USD.

Xuất khẩu hàng hóa:

kinh-ngach-xuat-khau-mot-so-mat-hang-quy-1-nam-2026.jpg.avif

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng đạt 46,44 tỷ USD, tăng 40,3% so với tháng 2/2026. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 8,96 tỷ USD, tăng 39,2%; Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 37,48 tỷ USD, tăng 40,6%.

So với cùng kỳ năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 3/2026 tăng 20,1%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 20,1%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 36,5%.

Lũy kế quý I/2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 122,93 tỷ USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 24,47 tỷ USD, giảm 16,6%, chiếm 19,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 98,46 tỷ USD, tăng 33,3%, chiếm 80,1%.

Trong quý I/2026, có 20 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 86,8% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 5 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 62,4%).

Nhập khẩu hàng hóa:

Quảng cáo
kim-ngach-nhap-khau-mot-so-mat-hang-quy-1-nam-2026.jpg.avif

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng đạt 47,11 tỷ USD, tăng 38,2% so với tháng 2/2026. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 13,45 tỷ USD, tăng 40,8%; Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 33,66 tỷ USD, tăng 37,1%.

So với cùng kỳ năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 3/2026 tăng 27,8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 3,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 47,1%.

Lũy kế quý I/2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 126,57 tỷ USD, tăng 27% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 35,2 tỷ USD, giảm 4,3%; Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 91,37 tỷ USD, tăng 45,3%.

Trong quý I/2026, có 22 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 82,8% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 2 mặt hàng nhập khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 49,8%).

CHỈ SỐ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP (IIP)

chi-so-san-xuat-cong-nghiep-cua-viet-nam-trong-quy-1-nam-2026.jpg.avif

Sản xuất công nghiệp trong quý I/2026 tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, ước tăng 9% so với cùng kỳ năm 2025, là mức tăng cao nhất của quý I kể từ năm 2020 đến nay, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,7%.

Chỉ số IIP tháng 3/2026 ước tăng 18,8% so với tháng 2/2026 và tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,1% so với cùng kỳ năm ngoái; Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,5%; Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,6%; Ngành khai khoáng tăng 2,6%.

mot-so-san-pham-cong-nghiep-thang-3-nam-2026.jpg.avif

Chỉ số IIP quý I/2026 ước tăng 9% so với cùng kỳ năm 2025 (quý I/2025 tăng 8,3%), trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,7%, đóng góp 7,6 điểm phần trăm vào mức tăng chung; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,3%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; Ngành khai khoáng tăng 4,7%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm trong mức tăng chung.

mot-so-san-pham-cong-nghiep-quy-1-nam-2026.jpg.avif

Chỉ số IIP quý I/2026 so với cùng kỳ năm 2025 tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; Ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; Ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.

THU - CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Thu ngân sách Nhà nước quý I/2026 ước tăng 11,4% so với cùng kỳ năm 2025. Chi ngân sách Nhà nước ước tăng 23,1% so với cùng kỳ năm ngoái, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.

Thu ngân sách Nhà nước:

thu-ngan-sach-nha-nuoc-quy-1-nam-2026.jpg.avif

Tổng thu ngân sách Nhà nước trong tháng ước đạt 219,3 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước quý I/2026 đạt 829,4 nghìn tỷ đồng, bằng 32,8% dự toán năm và tăng 11,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, một số khoản thu chính như sau:

- Thu nội địa tháng 3/2026 ước đạt 177,3 nghìn tỷ đồng. Lũy kế quý I/2026 đạt 740,7 nghìn tỷ đồng, bằng 33,7% dự toán năm và tăng 12,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Mặc dù tốc độ tăng thu nội địa quý I/2026 so với cùng kỳ năm 2025 đạt khá nhưng vẫn thấp hơn tốc độ tăng của năm ngoái (37%), tiến độ thu một số sắc thuế đang có dấu hiệu giảm do những khó khăn nội tại của nền kinh tế.

- Thu từ dầu thô tháng 3/2026 ước đạt 5,6 nghìn tỷ đồng. Lũy kế quý I/2026 đạt 11,2 nghìn tỷ đồng, bằng 26,1% dự toán năm và giảm 15,8% so với cùng kỳ năm 2025 do ảnh hưởng của tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, giá dầu thế giới tăng cao.

- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu tháng 3/2026 ước đạt 36,3 nghìn tỷ đồng. Lũy kế quý I/2026 đạt 77,4 nghìn tỷ đồng, bằng 27,8% dự toán năm và tăng 7,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Công tác quản lý thu, triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn đã tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thông quan hàng hóa, đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu.

Chi ngân sách Nhà nước:

chi-ngan-sach-nha-nuoc-quys-1-nam-2026.jpg.avif

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 3/2026 ước đạt 207,5 nghìn tỷ đồng. Lũy kế quý I/2026 ước đạt 530,1 nghìn tỷ đồng, bằng 16,8% dự toán năm và tăng 23,1% so với cùng kỳ năm 2025.

Nhìn chung, chi ngân sách Nhà nước trong quý I/2026 được thực hiện theo dự toán, đáp ứng các yêu cầu đặt ra, chăm lo cho các đối tượng hưởng lương, lương hưu và trợ cấp xã hội từ ngân sách Nhà nước, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Trong đó, chi thường xuyên quý I/2026 đạt 376 nghìn tỷ đồng, bằng 20,8% dự toán năm và tăng 18,8% so với cùng kỳ năm ngoái; Chi đầu tư phát triển đạt 116,1 nghìn tỷ đồng, bằng 10,4% và tăng 44,6%; Chi trả nợ lãi 37,2 nghìn tỷ đồng, bằng 30,7% và tăng 11,9%.

VẬN TẢI HÀNH KHÁCH VÀ HÀNG HÓA

Hoạt động vận tải tháng 3/2026 tiếp tục sôi động, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân trong nước cũng như khách quốc tế đến Việt Nam, phục vụ sản xuất và xuất nhập khẩu hàng hóa. So với cùng kỳ năm trước, vận tải hành khách tháng 3/2026 tăng 17,3% về vận chuyển và tăng 11,9% về luân chuyển; vận tải hàng hóa tăng 16,3% về vận chuyển và tăng 14,9% về luân chuyển.

Lũy kế quý I/2026, vận chuyển hành khách tăng 18,3% và luân chuyển tăng 11,3% so với cùng kỳ năm 2025; vận chuyển hàng hóa tăng 14,5% và luân chuyển tăng 12%.

tinh-hinh-van-tai-hang-hoa-trong-quy-1-nam-2026.jpg.avif

Vận tải hành khách tháng 3/2026 ước đạt 539,3 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 2,2% so với tháng 2/2026 và luân chuyển 26,8 tỷ lượt khách/km, giảm 5,7%. Lũy kế quý I/2026, vận tải hành khách ước đạt 1.649,8 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm 2025 và luân chuyển đạt 84,5 tỷ lượt khách/km, tăng 11,3%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 1.644,9 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm ngoái và 69,1 tỷ lượt khách/km luân chuyển, tăng 14,8%; Vận tải ngoài nước ước đạt 4,9 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 1% và 15,4 tỷ lượt khách/km luân chuyển, giảm 2,1%.

Vận tải hàng hóa tháng 3/2026 ước đạt 272,5 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 2,9% so với tháng 2/2026 và luân chuyển 54,8 tỷ tấn/km, tăng 3,5%. Lũy kế quý I/2026, vận tải hàng hóa ước đạt 810,9 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2025 và luân chuyển 157,6 tỷ tấn/km, tăng 12%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 796,7 triệu tấn vận chuyển, tăng 14,6% và 97,3 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 16,7%; Vận tải ngoài nước ước đạt 14,2 triệu tấn vận chuyển, tăng 12,1% và 60,3 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 5,1%.

KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN VIỆT NAM

khach-quoc-te-den-viet-nam-trong-thang-3-nam-2026-phan-theo-phuong-tien-den.jpg.avif
khach-quoc-te-den-viet-nam-thang-3-nam-2026-phan-theo-vi-tri-dia-ly.jpg.avif

Môi trường chính trị - xã hội ổn định, an toàn; chính sách thị thực ngày càng thông thoáng; hoạt động xúc tiến, quảng bá được chuyên nghiệp hóa, cùng với hệ thống sản phẩm đa dạng, phù hợp xu hướng và chất lượng dịch vụ không ngừng được cải thiện đã tạo nền tảng quan trọng để thu hút khách quốc tế đến Việt Nam.

khach-quoc-te-den-viet-nam-trong-quy-1-nam-2026-phan-theo-phuong-tien-den.jpg.avif
khach-quoc-te-den-viet-nam-quy-1-nam-2026-phan-theo-vi-tri-dia-ly.jpg.avif

Trong tháng 3/2026, khách quốc tế đến nước ta đạt gần 2,1 triệu lượt người, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế quý I/2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 6,76 triệu lượt người, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm ngoái và là mức cao nhất của quý I các năm từ trước đến nay. Trong đó, khách đến bằng đường hàng không đạt 5,56 triệu lượt người, chiếm 82,3% lượng khách quốc tế đến và tăng 7% so với cùng kỳ năm 2025; Bằng đường bộ đạt 1,05 triệu lượt người, chiếm 15,5% và tăng 53,1%; Bằng đường biển đạt 148,2 nghìn lượt người, chiếm 2,2% và tăng 11,4%.

Số lượt người Việt Nam xuất cảnh trong quý I/2026 ước đạt 1,2 triệu lượt người, giảm 55% so với cùng kỳ năm 2025.

VỐN FDI ĐĂNG KÝ CẤP MỚI

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong quý I/2026 theo giá hiện hành tăng 10,7% so với cùng kỳ năm ngoái, cao hơn mức tăng 9,4% cùng kỳ quý I/2025, phản ánh xu hướng phục hồi rõ nét ở nhiều ngành, lĩnh vực, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện kết cấu hạ tầng, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam quý I/2026 ước đạt 5,41 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2025, mức cao nhất quý I của các năm từ năm 2022 đến nay.

quoc-gia-va-vung-lanh-tho-co-du-an-duoc-cap-phep-moi-tai-viet-nam-trong-3-thjang-nam-2026.jpg.avif

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý I/2026 theo giá hiện hành ước đạt 744,7 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm ngoái, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước ước đạt 207,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 27,8% tổng vốn đầu tư và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2025; Khu vực ngoài Nhà nước đạt 402,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 54,1%, tăng 9,8%; Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 135,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 18,1% và tăng 11,8%.

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước quý I/2026 ước đạt 133,2 nghìn tỷ đồng, bằng 14,5% kế hoạch năm và tăng 12,1% so với cùng kỳ năm ngoái (quý I/2025 bằng 11,7% và tăng 21,8%). Theo cấp quản lý, vốn trung ương đạt 18,6 nghìn tỷ đồng, bằng 10% kế hoạch năm và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2025; Vốn địa phương đạt 114,6 nghìn tỷ đồng, bằng 15,7% và tăng 12,2%. Trong vốn địa phương quản lý, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 88,5 nghìn tỷ đồng, bằng 15,5% và tăng 9,2%; Vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 26,1 nghìn tỷ đồng, bằng 16,4% và tăng 23,5%.

Trong số 52 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 3 tháng đầu năm 2026, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 5,32 tỷ USD, chiếm 52% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 3,68 tỷ USD, chiếm 35,9%; Trung Quốc 417,5 triệu USD, chiếm 4,1%; Đặc khu hành chính Hồng Kông (TQ) 256,8 triệu USD, chiếm 2,5%; Nhật Bản 191,3 triệu USD, chiếm 1,9%; Mỹ 91,3 triệu USD, chiếm 0,9%.

Trong 3 tháng đầu năm 2026, có 28 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó: Lào là nước dẫn đầu với 176,7 triệu USD, chiếm 28,5% tổng vốn đầu tư; Kyrgyzstan 149,9 triệu USD, chiếm 24,2%; Anh 82,8 triệu USD, chiếm 13,4%; Angola 30 triệu USD, chiếm 4,8%; Hà Lan 29,4 triệu USD, chiếm 4,7%; Thụy Điển 28,5 triệu USD, chiếm 4,6%.

dia-phuong-thu-hut-von-fdi-dang-ky-cap-moi-trong-3-thang-nam-2026.jpg.avif

7 địa phương dẫn đầu về thu hút vốn FDI đăng ký cấp mới là Thái Nguyên, Nghệ An, Hà Tĩnh, TP.HCM, Bắc Ninh, Tây Ninh và Đồng Nai.

Theo https://thuonggiaonline.vn/ Copy

Trụ sở chính: 132 Nguyễn Tuân - P.Thanh Xuân Trung - Q. Thanh Xuân - TP.Hà Nội

ĐT: 024.35571875/76/77 – Fax: 024.35571874

Email: vanphong.vacod@gmail.com

Website: vacod.vn

Các đơn vị trực thuộc

Văn phòng Vacod miền trung - Tp Đà Nẵng

Địa chỉ: Số 278/4 Nguyễn Văn Linh - Thành phố Đà Nẵng
ĐT: 0236.3652692 - Fax: 0236.3653208

Văn phòng Vacod miền nam - Tp Hồ Chí Minh

Địa chỉ: Số 6A Phạm Đình Toái, Phường 6, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
ĐT: 0983358188

Công ty TNHH MTV Vacod

Trụ sở chính: 132 Nguyễn Tuân - Thanh Xuân - Hà Nội
ĐT: 024.35571875/76/77 – Fax: 024.35571874

Viện nghiên cứu phát triển hàng tiêu dùng Việt Nam

Trụ sở chính: 132 Nguyễn Tuân - Thanh Xuân - Hà Nội
ĐT: 024.35571875/76/77 – Fax: 024.35571874

Cơ quan ngôn luận: Tạp chí Thương Gia

Địa chỉ: Số 14, Khu 249A Thụy Khuê, Quận Tây Hồ, Hà Nội
ĐT: 0879 504 666 - Email: toasoan@thuonggiaonline.vn
Website: https://thuonggiaonline.vn/