Nhiều năm nay, chúng ta vẫn tự hào với ngôi thứ nhì thế giới
và tại thời điểm hiện tại đã soán “ngôi vương” trong lĩnh vực xuất khẩu
gạo. Ngành lúa gạo năm nay đang hướng tới kỷ lục mới về khối lượng xuất
khẩu, thế nhưng giá trị kim ngạch lại giảm.
Điều này cho thấy sản xuất và xuất khẩu nhiều hơn không đồng nghĩa với
nhiều tiền hơn. Đằng sau câu chuyện thành công của ngành lúa gạo Việt
Nam, có nhiều cái mất cần được đong đo.
Mặc dù còn một tháng rưỡi nữa mới kết thúc năm 2012, nhưng những ngày qua ngành lúa gạo Việt Nam rộ lên hai thông tin vui.
Thứ nhất, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sản lượng lúa thu
hoạch năm nay sẽ tiếp tục thiết lập kỷ lục mới với 43,4 triệu tấn, tăng
hơn 1 triệu tấn so với năm trước. Con số này được tính toán trên cơ sở
ước tính tổng diện tích trồng lúa cả năm 2012 (gộp tất cả các vụ) đạt
gần 7,75 triệu ha (tăng 1,2% so với năm 2011); năng suất bình quân ước
đạt 56 tạ/ha (tăng 0,6 tạ/ha).
Thứ hai, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), tính đến
31/10/2012, Việt Nam đã vươn lên trị trí số 1 về xuất khẩu gạo và các
doanh nghiệp đang nỗ lực phấn đấu để đến cuối năm, Việt Nam sẽ thay thế
Thái Lan trở thành nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. VFA đưa ra dự
kiến Việt Nam sẽ thiết lập kỷ lục mới với 7,5 triệu tấn gạo, nhưng đang
phấn đấu đạt mức 7,7 triệu tấn gạo xuất khẩu trong năm nay.
“Chở củi về rừng”
Nhưng, đằng sau thành tích đó, là biết bao nỗi lo. Đó là, nhập khẩu phân
bón, thuốc bảo vệ thực vật, lúa giống cũng đã gần bằng tiền thu về do
xuất khẩu gạo.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nhập khẩu phân bón 10 tháng
đầu năm ước đạt 3,05 triệu tấn với giá trị nhập khẩu 1,33 tỷ USD (tăng
0,9% về khối lượng và 8% về giá trị so với cùng kỳ năm trước). Thuốc trừ
sâu và nguyên liệu nhập khẩu 10 tháng tiêu tốn 550 triệu USD (tăng
20,2% so cùng kỳ năm trước). Rõ ràng thặng dư thương mại của ngành sản
xuất lúa gạo khi cân đối đầu vào - đầu ra là không đáng kể.
Ngành lúa gạo năm nay đang hướng tới kỷ lục mới về khối lượng xuất khẩu, thế nhưng giá trị kim ngạch lại giảm.
Cũng theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, lượng gạo xuất khẩu 10
tháng đầu năm ước đạt 6,9 triệu tấn, giá trị 3,14 tỷ USD, tăng 8,3% về
lượng nhưng giảm 8,7% về giá trị so cùng kỳ năm trước. Tức là nông dân
làm việc nhiều hơn, nhưng tiền thu về lại thấp hơn. Hầu hết gạo đã được
xuất khẩu lúc giá rẻ. Hiện giá lúa gạo đang tăng trở lại nhưng lúa hàng
hóa trong dân không còn bao nhiêu.
Việc ồ ạt xuất khẩu gạo đã khiến nguồn gạo gối cho năm sau giảm mạnh,
tức là vào đầu năm 2013 khi giá gạo xuất khẩu tăng cao thì ta sẽ không
còn nhiều gạo để xuất khẩu. Theo VFA, nếu năm nay xuất khẩu 7,7 triệu
tấn gạo, thì lượng gạo còn tồn chuyển sang năm tới chỉ còn khoảng
500.000 tấn. Khối lượng này quá thấp so với con số trung chuyển hàng năm
khoảng 1-1,2 triệu tấn, sẽ ảnh hưởng đến khối lượng gạo xuất khẩu của
năm 2013.
Việt Nam được coi là một trong những quốc gia sản xuất và xuất khẩu gạo
hàng đầu thế giới, thế nhưng nhìn lại toàn ngành lương thực hạt cốc,
thực chất chúng ta vẫn đang nhập siêu. Mỗi năm nước ta phải chi khoản
ngoại tệ lớn hơn nhiều so với kim ngạch xuất khẩu gạo để nhập khẩu: ngô,
đậu tương, lúa mì.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nhập khẩu nhóm mặt hàng
nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc 10 tháng tính từ đầu năm 2012 ước
tiêu tốn 1,92 tỷ USD, trong đó riêng ngô và khô dầu đậu tương đã lên hơn
1,5 tỷ USD. Nước ta cũng đang phải nhập khẩu lượng đậu tương và lúa mì
rất lớn để phục vụ cho các ngành chế biến thực phẩm, bánh kẹo, dầu ăn.
Tính trong 10 tháng qua, cả nước đã nhập khẩu 2,36 triệu tấn lúa mì, tốn
phí 743 triệu USD, so cùng kỳ năm 2011 tăng 29,4% về khối lượng và
19,4% về giá trị. Khối lượng đậu tương nhập khẩu 10 tháng là 1.248 ngàn
tấn với giá trị 742 triệu USD, đây là mặt hàng có tốc độ nhập khẩu tăng
hơn cao so với năm 2011, tăng 87,9% về khối lượng và tăng 94,3% về giá
trị.
Nhiều hơn là tốt hơn?
Vậy là một quốc gia xuất khẩu lương thực hàng đầu thế giới, thế nhưng vì
sao lại phải “chở củi về rừng” như vậy? Phải chăng, ngành nông nghiệp
nước ta đang quá “say mê” với những thành tích về khối lượng xuất khẩu,
tự mãn với những ngôi vị nhất nhì thế giới của gạo, mà không đếm xỉa đến
những loại cây lương thực quan trọng khác. Trong khi, trên thị trường
thế giới, gạo đang mất giá liên tục, còn ngô và đậu tương đã tăng giá
chóng mặt thời gian qua.
Đằng sau câu chuyện thành công của ngành lúa gạo Việt Nam là nhiều cái
mất. Tình trạng khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, thể hiện ở
việc tăng diện tích, mật độ canh tác và sử dụng ngày càng nhiều đầu vào
sản xuất.
Phương châm “nhiều hơn là tốt hơn” này đã dẫn tới tình trạng lạm dụng
giống cây trồng, phân bón, hóa chất nông nghiệp và tài nguyên nước. Việt
Nam là quốc gia nhập khẩu phân bón nhiều thứ ba thế giới (sau Ấn Độ và
Brazil).
Hiện mỗi năm Việt Nam sử dụng gần 9 triệu tấn phân bón, cao gấp đôi so
với cách đây 5 năm. Trong đó, phân bón dùng cho sản xuất lúa gạo chiếm
tỷ trọng lớn nhất, mức sử dụng bình quân cao gấp đôi so với mức sử dụng
của Indonesia. Tổ chức Oxfam khuyến cáo: “Đã đến lúc phải gây dựng lại!
Với tất cả những áp lực ngày càng tăng này, ngành sản xuất lúa gạo Việt
Nam cần phải tạo ra “nhiều hơn từ ít hơn”.
GS.TS Peter Timmer, Đại học Stanford Hoa Kỳ nhận định: tiêu thụ gạo giảm
trong khi thu nhập đầu người tăng và gạo ngày càng trở thành lương thực
cho người nghèo. Viễn cảnh nhu cầu về gạo đang giảm sút, trong khi áp
lực từ nhiều quốc gia sản xuất lúa vẫn đang tiếp tục phải tăng năng suất
lúa, tăng nguồn cung để đẩy mạnh xuất khẩu thu ngoại tệ. Vì vậy, Việt
Nam không nên quá chú trọng vào việc tăng sản lượng lúa gạo, mà cần phải
xây dựng chiến lược phát triển chuỗi sản xuất - thương mại lúa gạo bền
vững hơn, giải quyết các nghịch lý để thực sự đem lại lợi nhuận cao.
Theo Thời báo Kinh tế Việt Nam
