Xoá mã số thuế: Không thể bỏ qua trách nhiệm của doanh nghiệp, hộ kinh doanh khi chấm dứt hoạt động

6465.png.avif

Liên quan đến chiến dịch này, Thương gia giới thiệu bài viết của bà Lê Thị Yến - Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn thuế Hà Nội (Hanoitax). Những vấn đề về sự cần thiết phải làm sạch mã số thuế, trách nhiệm của doanh nghiệp, hộ kinh doanh, các cơ quan quản lý và những gợi ý về giải pháp thực hiện được bà Yến phân tích một cách sâu sắc trong bài viết.

NHỮNG HỆ LỤY

Việc tồn đọng số lượng lớn mã số thuế của doanh nghiệp, hộ kinh doanh không còn hoạt động không chỉ là vấn đề về số liệu thống kê, mà còn là một điểm nghẽn trong công tác quản lý và sử dụng nguồn lực của Nhà nước.

Trước hết, về mặt thống kê, nếu chúng ta không phân loại rõ giữa doanh nghiệp thực sự đang hoạt động, doanh nghiệp tạm ngừng và doanh nghiệp đã ngừng hoạt động trên thực tế nhưng chưa hoàn tất thủ tục pháp lý, thì rất khó có được bức tranh chính xác về sức khỏe của nền kinh tế.

Chẳng hạn, số lượng doanh nghiệp còn tồn tại trên hệ thống có thể rất lớn, nhưng trong đó có bao nhiêu doanh nghiệp thực sự đang sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và đóng góp ngân sách? Nếu không có dữ liệu chính xác, việc dự báo, đánh giá hiệu quả các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cũng có thể bị ảnh hưởng.

Thứ hai, dưới góc độ quản trị, những mã số thuế không còn hoạt động thực chất nhưng chưa được xử lý sẽ tạo ra một lượng lớn dữ liệu không còn phản ánh đúng thực trạng, làm gia tăng chi phí quản lý. Cơ quan thuế vẫn phải dành nguồn lực để theo dõi, phân loại, gửi thông báo, xử lý các nghĩa vụ kê khai và nợ thuế tồn đọng. Điều này có thể làm phân tán nguồn lực đáng lẽ nên tập trung cho các doanh nghiệp đang hoạt động và có khả năng phát triển.

6458.png.avif

Tôi cho rằng chúng ta nên thay đổi một chút về tư duy quản lý: Nếu coi doanh nghiệp là khách hàng của Nhà nước, là chủ thể tạo ra việc làm, giá trị gia tăng và nguồn thu ngân sách, thì công tác quản lý không chỉ nhằm kiểm soát doanh nghiệp mà còn phải tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển.

Khi đó, việc làm sạch dữ liệu không đơn thuần là loại bỏ những mã số thuế không còn hoạt động, mà còn giúp Nhà nước nhận diện chính xác các nhóm doanh nghiệp, phân bổ nguồn lực quản lý hợp lý hơn, nâng cao chất lượng phục vụ và xây dựng các chính sách hỗ trợ đúng đối tượng.

Theo tôi, một hệ thống quản lý tốt không nhất thiết là hệ thống quản lý được nhiều mã số thuế nhất, mà là hệ thống nắm được chính xác ai đang hoạt động, ai cần hỗ trợ và ai cần phải xử lý theo quy định pháp luật.

Vì vậy, việc rà soát, làm sạch dữ liệu mã số thuế là rất cần thiết, không chỉ để nâng cao hiệu quả quản lý mà còn tạo nền tảng cho một môi trường kinh doanh minh bạch, lành mạnh và thuận lợi hơn.

TRÁCH NHIỆM KHÔNG CHỈ ĐẾN TỪ MỘT PHÍA

Về trách nhiệm khi để tình trạng doanh nghiệp, hộ kinh doanh không còn hoạt động nhiều năm nhưng chưa được xử lý mã số thuế, theo tôi cần nhìn nhận vấn đề này một cách khách quan, toàn diện, bởi trách nhiệm không chỉ đến từ một phía mà có cả trách nhiệm của doanh nghiệp và những hạn chế trong quá trình tổ chức thực thi pháp luật.

Trước hết, về phía doanh nghiệp, pháp luật đã có những quy định tương đối rõ ràng về việc thành lập, tổ chức hoạt động cũng như giải thể, chấm dứt hoạt động kinh doanh.

Điều đó có nghĩa là khi một cá nhân quyết định thành lập doanh nghiệp để tham gia thị trường thì cũng phải có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý khi muốn rút khỏi thị trường. Chúng ta không thể chỉ quan tâm đến quyền được thành lập, quyền được kinh doanh mà bỏ qua trách nhiệm khi chấm dứt hoạt động.

Tuy nhiên, từ thực tế tư vấn, tôi nhận thấy không phải tất cả doanh nghiệp chưa hoàn tất thủ tục giải thể đều cố tình vi phạm pháp luật. Có những doanh nghiệp khởi nghiệp không thành công, thua lỗ, không còn khả năng tài chính để duy trì hoạt động. Khi doanh nghiệp đã ngừng kinh doanh, nhân sự kế toán nghỉ việc, hồ sơ chứng từ thất lạc, người chủ doanh nghiệp thậm chí không còn đủ kinh phí thuê đơn vị chuyên môn thực hiện thủ tục giải thể.

6475.png.avif

Trong khi đó, để hoàn tất việc giải thể, doanh nghiệp có thể phải xử lý nhiều năm nghĩa vụ kê khai, sổ sách kế toán, các khoản nợ và thủ tục hành chính liên quan. Chi phí để rút khỏi thị trường đôi khi trở thành một gánh nặng đối với những người vốn đã thất bại trong kinh doanh.

Nhưng ở chiều ngược lại, chúng ta cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng có những trường hợp doanh nghiệp đã phát sinh doanh thu, có lợi nhuận, có nghĩa vụ thuế nhưng cố tình ngừng hoạt động, bỏ địa chỉ kinh doanh nhằm trốn tránh trách nhiệm. Thậm chí, có doanh nghiệp được thành lập với mục đích trục lợi, mua bán hóa đơn hoặc thực hiện những hành vi vi phạm khác.

Do đó, tôi cho rằng phải phân biệt rõ giữa doanh nghiệp không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ và doanh nghiệp cố tình trốn tránh nghĩa vụ. Hai nhóm này không thể áp dụng cùng một phương thức xử lý.

Về phía cơ quan quản lý nhà nước, chúng ta cũng cần nhìn nhận vấn đề trong bối cảnh lịch sử.

Trước đây, hệ thống dữ liệu giữa các cơ quan quản lý chưa được liên thông đầy đủ, việc xác minh tình trạng hoạt động thực tế của doanh nghiệp còn khó khăn, trong khi số lượng doanh nghiệp thành lập và chấm dứt hoạt động ngày càng lớn. Nguồn lực quản lý có hạn nên việc theo dõi và xử lý triệt để từng trường hợp không phải lúc nào cũng thực hiện được.

Về mặt lý thuyết, nếu áp dụng ngay từ đầu những biện pháp cưỡng chế rất nghiêm khắc đối với mọi trường hợp không hoàn tất thủ tục giải thể, chẳng hạn như hạn chế xuất cảnh, thì có thể sẽ tạo ra sức ép tuân thủ rất lớn.

Nhưng chúng ta cũng cần đặt câu hỏi: Nếu một người khởi nghiệp thất bại mà phải đối mặt với quá nhiều rủi ro pháp lý và chi phí để rút khỏi thị trường, liệu họ còn dám tiếp tục khởi nghiệp hay không?

Đặc biệt, trong bối cảnh Nhà nước đang khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, tôi cho rằng chính sách cần bảo đảm sự cân bằng giữa kỷ cương pháp luật và động lực kinh doanh. Các biện pháp cưỡng chế, bao gồm tạm hoãn xuất cảnh, phải được áp dụng đúng điều kiện, đúng đối tượng và tương xứng với tính chất vi phạm, chứ không nên trở thành biện pháp áp dụng đồng loạt.

Từ những phân tích trên, tôi cho rằng cần có cơ chế đánh giá trách nhiệm, nhưng mục tiêu phải là xác định và tháo gỡ nguyên nhân chậm trễ, chứ không đơn thuần là tìm người chịu trách nhiệm.

Cần phân biệt hồ sơ chậm do doanh nghiệp không hợp tác, không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ với hồ sơ đã đầy đủ điều kiện nhưng bị kéo dài do quy trình hoặc sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý.

Đối với những hồ sơ đã đủ điều kiện xử lý, cần quy định rõ thời hạn, trách nhiệm của từng bộ phận và cơ chế giám sát tiến độ. Ngược lại, với những trường hợp vướng mắc khách quan, cần có phương án tháo gỡ phù hợp.

Tôi nghĩ rằng ở mỗi giai đoạn phát triển, chúng ta có thể phải chấp nhận một số hạn chế nhất định trong quản lý để ưu tiên cho những mục tiêu lớn hơn. Nhưng khi điều kiện về công nghệ, dữ liệu và năng lực quản trị đã thay đổi, chúng ta cũng cần thay đổi phương thức quản lý.

6462.jpg.avif

Vì vậy, thay vì chỉ nhìn lại để quy trách nhiệm cho những tồn đọng trong quá khứ, điều quan trọng hơn là tận dụng quá trình làm sạch dữ liệu lần này để xây dựng một cơ chế quản lý hiệu quả hơn, ngăn ngừa tình trạng tương tự tiếp tục phát sinh trong tương lai.

Tôi cũng đề xuất cần tận dụng hệ thống dữ liệu điện tử và sự liên thông giữa cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh, các cơ quan quản lý có liên quan để chủ động phân loại, xác minh, thay vì yêu cầu người dân và doanh nghiệp phải tự đi thu thập lại những thông tin mà Nhà nước đã có.

Cuối cùng, tôi cho rằng thành công của chiến dịch không nên chỉ được đánh giá bằng số lượng mã số thuế đã được xử lý, mà còn phải được đo bằng số lượng hồ sơ tồn đọng được giải quyết thực chất, số nghĩa vụ thuế được xác định và xử lý đúng pháp luật, chi phí tuân thủ được cắt giảm và mức độ thuận lợi của người dân, doanh nghiệp khi rút khỏi thị trường.

Quảng cáo

Một môi trường kinh doanh tốt không chỉ là môi trường mà người dân dễ dàng thành lập doanh nghiệp, mà còn phải là môi trường mà khi kinh doanh không thành công, họ có thể rút khỏi thị trường bằng một quy trình minh bạch, hợp lý và có cơ hội bắt đầu lại.

Đó mới là ý nghĩa lâu dài của việc làm sạch dữ liệu, tháo gỡ điểm nghẽn và khơi thông môi trường kinh doanh.

BỐN NHÓM GIẢI PHÁP CẦN THỰC HIỆN

Theo tôi, muốn làm sạch dữ liệu một cách hiệu quả thì trước hết phải phân loại đúng đối tượng, bởi không thể sử dụng một quy trình và một chế tài để xử lý tất cả các trường hợp.

Từ thực tế hoạt động tư vấn thuế, tôi đề xuất phân chia thành bốn nhóm để có cơ chế xử lý phù hợp.

Nhóm thứ nhất: Những trường hợp bị lợi dụng thông tin cá nhân để thành lập doanh nghiệp và những doanh nghiệp khởi nghiệp không thành công, chưa phát sinh hoạt động thực chất.

Với những cá nhân bị đánh cắp hoặc lợi dụng thông tin để đứng tên giám đốc, người đại diện pháp luật mà bản thân họ không hề biết, tôi cho rằng cần có cơ chế xác minh nhanh và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ, tránh để những người này phải gánh chịu nghĩa vụ do người khác thực hiện trái pháp luật.

Còn đối với những doanh nghiệp được thành lập với mục đích kinh doanh thực sự nhưng khởi nghiệp không thành công, không phát sinh doanh thu, không sử dụng hóa đơn, không có nghĩa vụ thuế thực tế, thì nên có cơ chế giải thể đơn giản hơn.

Ví dụ, một người thành lập doanh nghiệp nhưng sau đó không triển khai được hoạt động kinh doanh. Nhiều năm sau muốn giải thể, họ lại phải hoàn thiện hàng loạt tờ khai của các kỳ trước, xử lý các khoản tiền phạt chậm nộp hồ sơ, lệ phí môn bài nếu có nghĩa vụ, trong khi doanh nghiệp không hề tạo ra doanh thu.

Theo tôi, đối với những trường hợp được xác minh thực sự không phát sinh hoạt động, Nhà nước nên nghiên cứu cơ chế miễn, giảm hoặc xử lý phù hợp các khoản phạt mang tính thủ tục; xem xét các khoản lệ phí, nghĩa vụ còn tồn đọng theo từng thời kỳ pháp luật và cho phép thực hiện thủ tục kê khai, xác nhận đơn giản hơn.

Mục tiêu là tạo điều kiện để những người kinh doanh thất bại có thể rút khỏi thị trường một cách hợp pháp, thay vì tiếp tục bỏ mặc doanh nghiệp vì không đủ khả năng làm thủ tục.

6463.jpg.avif

Nhóm thứ hai: Những doanh nghiệp không kê khai doanh thu nhưng thực tế có hoạt động kinh doanh thông qua tài khoản cá nhân. Đây là nhóm cần đặc biệt lưu ý.

Có những doanh nghiệp đăng ký thành lập, sử dụng tư cách pháp nhân để ký kết hợp đồng, quảng bá sản phẩm, cung cấp hàng hóa, dịch vụ nhưng lại không ghi nhận doanh thu trên sổ sách, không xuất hóa đơn hoặc yêu cầu khách hàng thanh toán vào tài khoản cá nhân.

Về hình thức, doanh nghiệp có thể kê khai không phát sinh doanh thu, nhưng trên thực tế vẫn đang kinh doanh và tạo ra lợi ích kinh tế.

Với nhóm này, tôi cho rằng không thể chỉ căn cứ vào các tờ khai thuế bằng không để kết luận doanh nghiệp không phát sinh nghĩa vụ. Cơ quan thuế cần tăng cường đối chiếu dữ liệu hóa đơn, hợp đồng, dòng tiền, thông tin giao dịch và các nguồn dữ liệu hợp pháp khác để xác định bản chất hoạt động.

Trường hợp có đủ căn cứ xác định doanh thu không kê khai, cần thực hiện truy thu hoặc ấn định thuế theo quy định, đồng thời xử lý các hành vi vi phạm tương ứng.

Chúng ta phải bảo đảm nguyên tắc: Không thể để người kinh doanh tuân thủ pháp luật chịu bất lợi so với người cố tình che giấu doanh thu, trốn tránh nghĩa vụ thuế.

Nhóm thứ ba: Những doanh nghiệp đã hoạt động thực tế, có phát sinh nghĩa vụ thuế hoặc nợ thuế nhưng hiện nay không còn khả năng duy trì hoạt động.

Đây có thể là nhóm có nhiều vướng mắc khi xử lý, bởi những doanh nghiệp này từng có doanh thu, chi phí, lao động, hóa đơn và các nghĩa vụ pháp lý phát sinh.

Tuy nhiên, sau nhiều năm ngừng hoạt động, chứng từ có thể đã thất lạc, nhân sự kế toán không còn, phần mềm kế toán không sử dụng được, trong khi doanh nghiệp cũng không còn nguồn lực để khôi phục toàn bộ dữ liệu.

Theo tôi, cần nghiên cứu một cơ chế xử lý linh hoạt hơn. Chẳng hạn, thay vì yêu cầu doanh nghiệp lập lại đầy đủ từng tờ khai của nhiều năm trước trong mọi trường hợp, có thể nghiên cứu cơ chế kê khai tổng hợp, đối chiếu và xác nhận nghĩa vụ theo giai đoạn đối với các trường hợp đủ điều kiện.

Nếu doanh nghiệp không còn hồ sơ, chứng từ nhưng cơ quan thuế có đủ dữ liệu và căn cứ pháp lý, có thể xem xét việc xác định nghĩa vụ thuế thông qua phương pháp ấn định theo quy định.

Đồng thời, Nhà nước nên nghiên cứu chính sách giảm nhẹ các khoản xử phạt hành chính đối với những trường hợp có thiện chí hợp tác, chủ động khắc phục và thực hiện nghĩa vụ, trong giới hạn pháp luật cho phép.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với xóa bỏ nghĩa vụ thuế.

Những khoản thuế thực sự phát sinh vẫn phải được xác định và xử lý theo quy định. Nhưng phương thức thực hiện cần phù hợp với thực tế, tránh tình trạng doanh nghiệp muốn hoàn thành nghĩa vụ nhưng không thể thực hiện vì thủ tục quá phức tạp hoặc chi phí tuân thủ quá lớn.

Theo tôi, trong những trường hợp này, điều quan trọng là tìm ra phương án khả thi để Nhà nước có thể thu hồi nghĩa vụ còn tồn đọng và doanh nghiệp có thể hoàn tất việc rút khỏi thị trường.

Nhóm thứ tư: Những doanh nghiệp được thành lập nhằm mục đích trục lợi, mua bán hóa đơn, chiếm đoạt tiền thuế hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Đối với nhóm này, quan điểm của tôi là phải xử lý nghiêm.

Việc làm sạch dữ liệu mã số thuế tuyệt đối không thể trở thành cơ chế để hợp thức hóa các hành vi vi phạm trong quá khứ hoặc giúp các đối tượng trốn tránh trách nhiệm pháp lý.

Những trường hợp có dấu hiệu mua bán trái phép hóa đơn, trốn thuế, chiếm đoạt tiền hoàn thuế hoặc các hành vi có dấu hiệu tội phạm cần được chuyển cơ quan có thẩm quyền để điều tra, xử lý theo quy định, kể cả truy cứu trách nhiệm hình sự khi đủ căn cứ.

Đồng thời, cần làm rõ trách nhiệm của những cá nhân thực sự tổ chức, điều hành và hưởng lợi từ hoạt động vi phạm, tránh tình trạng chỉ xử lý người đứng tên trên giấy tờ mà bỏ lọt người đứng sau.

Tôi cho rằng chính sách phải tạo điều kiện cho người kinh doanh chân chính, kể cả những người từng thất bại, nhưng không thể tạo ra cơ hội cho những người cố tình lợi dụng pháp luật để trục lợi.

Từ bốn nhóm trên, tôi kiến nghị việc làm sạch dữ liệu mã số thuế nên được triển khai theo ba nguyên tắc:

Phân loại đúng: Xác định rõ doanh nghiệp không hoạt động thực chất, doanh nghiệp còn nghĩa vụ thuế và doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm.

Xử lý phù hợp: Đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí tuân thủ đối với các trường hợp có thiện chí; xác định và thu hồi đầy đủ nghĩa vụ đối với các trường hợp phát sinh thuế.

Không bỏ lọt trách nhiệm: Việc thay đổi trạng thái hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế phải có căn cứ pháp lý, không được sử dụng như biện pháp xóa bỏ các khoản nợ hoặc trách nhiệm chưa được giải quyết.

Theo https://thuonggiaonline.vn/ Copy

Trụ sở chính: 132 Nguyễn Tuân - P.Thanh Xuân Trung - Q. Thanh Xuân - TP.Hà Nội

ĐT: 024.35571875/76/77 – Fax: 024.35571874

Email: vanphong.vacod@gmail.com

Website: vacod.vn

Các đơn vị trực thuộc

Văn phòng Vacod miền trung - Tp Đà Nẵng

Địa chỉ: Số 278/4 Nguyễn Văn Linh - Thành phố Đà Nẵng
ĐT: 0236.3652692 - Fax: 0236.3653208

Văn phòng Vacod miền nam - Tp Hồ Chí Minh

Địa chỉ: Số 6A Phạm Đình Toái, Phường 6, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
ĐT: 0983358188

Công ty TNHH MTV Vacod

Trụ sở chính: 132 Nguyễn Tuân - Thanh Xuân - Hà Nội
ĐT: 024.35571875/76/77 – Fax: 024.35571874

Viện nghiên cứu phát triển hàng tiêu dùng Việt Nam

Trụ sở chính: 132 Nguyễn Tuân - Thanh Xuân - Hà Nội
ĐT: 024.35571875/76/77 – Fax: 024.35571874

Cơ quan ngôn luận: Tạp chí Thương Gia

Địa chỉ: Số 14, Khu 249A Thụy Khuê, Quận Tây Hồ, Hà Nội
ĐT: 0879 504 666 - Email: toasoan@thuonggiaonline.vn
Website: https://thuonggiaonline.vn/