Báo cáo tài chính của nhiều ngân hàng thể hiện vốn cho vay doanh nghiệp và nền kinh tế có phần “lép vế” so với cho vay liên ngân hàng và các hoạt động đầu tư tài chính khác.
Đầu tuần này, ngân hàng Dầu khí
Toàn cầu (GPBank) áp dụng lãi suất huy động mới với mức cao nhất 13%/năm
dành cho các khách hàng gửi tiết kiệm kỳ hạn 13 tháng; kỳ hạn 12 tháng
tăng lên mức 12,5%/năm. Trước GPBank, một số ngân hàng khác như ACB,
Sacombank, VietBank, BacABank, DaiABank… cũng đã tăng lãi suất huy động
kỳ hạn dài với mức trần tương tự.
Tiền huy động của dân vẫn vào ngân hàng đều đều, nhưng ngân hàng ngại cho doanh nghiệp vay.
Ảnh: Lê Quang Nhật
Lý do tăng lãi suất thường được lãnh đạo một số ngân hàng giải
thích là nhằm khuyến khích khách hàng gửi tiền kỳ hạn dài, nhằm cân đối
kỳ hạn cho dòng vốn tín dụng của ngân hàng. Tuy nhiên, chuyên gia tài
chính Nguyễn Đại Lai cho rằng đây cũng là một cách để lách quy định về
trần lãi suất 9%/năm đối với kỳ hạn ngắn của ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Còn khi vốn đã vào ngân hàng rồi, việc sử dụng, cân đối ra sao, cho vay
kỳ hạn dài hay ngắn là trong phạm vi tự quyết của ngân hàng. “Không loại
trừ một số ngân hàng huy động vốn dài hạn nhưng thực chất là để bù đắp
thanh khoản tạm thời. Ngân hàng nào thừa vẫn thừa, thiếu vẫn thiếu”, ông
Lai nhận định.
Nguyên phó chủ tịch uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia Lê Xuân Nghĩa
phân tích, trong bối cảnh hiện nay, người gửi tiền không mặn mà, ngân
hàng dè dặt và bản thân doanh nghiệp cũng không mạnh tay đầu tư dài hạn,
do vậy tỷ trọng vốn cho kỳ hạn dài không cao. Tuy nhiên, vì một số ngân
hàng nhỏ, yếu thiếu vốn tăng lãi suất huy động để bù đắp thanh khoản,
nên các ngân hàng lớn cũng buộc phải chạy đua theo, dù đầu ra cho tín
dụng vẫn chưa thông.
Tính đến ngày 20/8, trong khi tăng trưởng tín dụng đạt 1,4% thì
tổng số dư tiền gửi tại các nhà băng đã tăng 11,23% so 31.12.2011, theo
bộ Kế hoạch và đầu tư. Vốn huy động vào ngân hàng vẫn tăng, song vốn cho
vay ra vẫn dậm chân tại chỗ, vậy dòng tiền của nền kinh tế đổ đi đâu?
Theo ông Lê Xuân Nghĩa, một số ngân hàng lớn vẫn xác định các ngân hàng
nhỏ, hẹp cơ hội huy động vốn từ thị trường 1 (thị trường huy động từ
doanh nghiệp, dân cư) là khách hàng tiềm năng. Một phần vốn huy động
được gửi vào NHNN, mua trái phiếu chính phủ, đầu tư tài chính… “Các ngân
hàng đúng là hiện hạn chế cho vay doanh nghiệp, vì rủi ro quá lớn. Cho
vay liên ngân hàng, đầu tư trái phiếu… dù lãi suất thấp hơn, song cũng
ít rủi ro hơn nhiều. Giữa lợi nhuận và an toàn, các ngân hàng đều có tâm
lý nghiêng về lựa chọn an toàn”, ông Nghĩa nhận định.
Ông Nguyễn Đại Lai cho rằng: “Tăng trưởng tín dụng của toàn ngành
rất thấp, song tổng tín dụng của nền kinh tế vẫn duy trì ở mức trên 120%
GDP, chứng tỏ một tỷ trọng lớn món vay đã được đảo nợ”. Phần khác, các
ngân hàng sử dụng vốn huy động để đầu tư phi tín dụng, như là mua trái
phiếu, uỷ thác đầu tư… “Nhiều tổ chức tín dụng đã hoạt động như mô hình
một công ty tài chính”, ông Lai nhận xét.
Báo cáo tài chính của không ít ngân hàng cũng thể hiện, vốn dành cho
khách hàng chiếm tỷ trọng nhỏ. Cụ thể, báo cáo tài chính quý 2/2012 của
LienVietPostBank, thể hiện: cho vay khách hàng hơn 16.000 tỉ đồng trong
khi tiền, vàng gửi tại các TCTD khác và cho vay các TCTD khác hơn 14.000
tỉ đồng; chứng khoán đầu tư hơn 12.000 tỉ đồng! Ngân hàng SHB, tính đến
30.6.2012, cho vay khách hàng là hơn 30.000 tỉ đồng, tương ứng với giá
trị tiền, vàng gửi và cho vay các TCTD khác cũng là hơn 30.000 tỉ đồng;
chứng khoán đầu tư hơn 10.000 tỉ đồng, chưa kể các khoản góp vốn, đầu tư
dài hạn khác. Một số ngân hàng có khoản đầu tư chứng khoán khá lớn như
ngân hàng MB đầu tư hơn 26.000 tỉ đồng (cho vay khách hàng là hơn 64.000
tỉ đồng); ngân hàng Sacombank đầu tư hơn 20.700 tỉ đồng (cho vay khách
hàng hơn 77.000 tỉ đồng)…
Theo Thảo Nguyễn
SGTT