Tham gia chương trình Bữa sáng Doanh nhân tuần này có ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội; PGS.TS Vũ Văn Tích, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ; ông Mai Xuân Hùng, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội; bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ, Phó Chủ tịch thường trực VACOD; bà Ninh Thị Ty, Phó Chủ tịch HBA cùng các doanh nhân đến từ hai Hiệp hội Phát triển Hàng tiêu dùng Việt Nam - VACOD và Hiệp hội Doanh nghiệp TP. Hà Nội – HBA…
MÔ HÌNH HỢP TÁC “BA NHÀ” VÀ BÀI HỌC TỪ HÀN QUỐC
Mở đầu chương trình Bữa sáng Doanh nhân, Phó Chủ tịch HBA Ninh Thị Ty giới thiệu PGS.TS Vũ Văn Tích chia sẻ về chuyến công tác tại Hàn Quốc tuần qua với ba mục tiêu trọng tâm: Thúc đẩy mô hình hợp tác “ba nhà” (Nhà nước – nhà khoa học – doanh nghiệp) ở quy mô quốc tế giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Đồng thời khảo sát mô hình hoạt động của một hiệp hội năng lượng tái tạo và làm việc với một viện nghiên cứu phát triển kinh tế – công nghệ có vai trò tư vấn chính sách tương tự các tổ chức nghiên cứu chiến lược.
Theo PGS.TS Vũ Văn Tích, điểm đáng chú ý của chuyến đi là mô hình hiệp hội năng lượng tái tạo tại Hàn Quốc. Hiệp hội này quy tụ đông đảo doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực nhưng cùng tập trung vào phát triển năng lượng sạch. Không chỉ dừng ở kết nối doanh nghiệp, tổ chức này còn chủ động xây dựng đề án, làm việc trực tiếp với Quốc hội và các đại biểu để kiến nghị chính sách, sau đó phối hợp với Chính phủ triển khai trên thực tế.
Điểm đáng chú ý là họ không dừng ở việc góp ý chính sách mà “đi đến cùng", tìm hiểu luật, bám sát quá trình lập pháp, vận động để có cơ chế cụ thể, rồi trực tiếp tham gia triển khai. Nhờ đó, hiệp hội có tiếng nói rất lớn, đóng vai trò trung gian đặc biệt quan trọng giữa Nhà nước và doanh nghiệp.
Một trong những chương trình tiêu biểu là sáng kiến “điện sạch nông thôn”, cho phép huy động nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt từ người dân thông qua việc lắp đặt điện mặt trời áp mái trên diện rộng. Chính phủ đóng vai trò hỗ trợ thông qua cơ chế tín dụng ưu đãi từ ngân hàng, giúp người dân đầu tư hệ thống điện mà không chịu áp lực tài chính lớn. Các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng từ thiết bị, biến áp đến trạm sạc xe điện – tạo nên một hệ sinh thái hoàn chỉnh với quy mô thị trường lên tới 17 tỷ USD. Sau khi thành công trong nước, mô hình này tiếp tục được hiệp hội đưa ra quốc tế, đến những quốc gia như Philippines, Campuchia, Myanmar nhằm hỗ trợ chuyển đổi năng lượng, vừa mở rộng thị trường cho doanh nghiệp Hàn Quốc.
Đáng chú ý, người dân không chỉ sử dụng điện sạch thay thế nguồn phát thải CO₂ mà còn có thêm nguồn thu từ việc bán điện. Chính sách cho phép bán điện trực tiếp giúp tối ưu hóa lợi ích kinh tế, trong khi các ngân hàng cung cấp vốn vay lãi suất thấp và doanh nghiệp tiêu thụ được sản phẩm. Song song, hệ thống nghiên cứu, đào tạo liên tục cải tiến công nghệ, còn ngành điện lực tích hợp nguồn điện này vào lưới truyền tải, kể cả phát triển các “microgrid” phục vụ khu công nghiệp.
Hiệp hội này còn tổ chức theo hướng chuyên môn hóa cao với các ban chức năng như đào tạo – truyền thông, khoa học công nghệ và vận động chính sách. Đặc biệt, họ duy trì kênh làm việc thường xuyên với Quốc hội để thúc đẩy cơ chế hỗ trợ từ Chính phủ. Hiện hiệp hội đã có hơn 1 triệu hội viên, đặt mục tiêu đạt 3 triệu vào năm 2035 và mở rộng ra khu vực Đông Á. Theo PGS.TS Vũ Văn Tích, đây là minh chứng rõ nét cho vai trò trung gian quan trọng của hiệp hội trong việc kết nối Nhà nước và doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, đoàn công tác cũng làm việc với một viện nghiên cứu lớn của Hàn Quốc trong lĩnh vực doanh nghiệp và khoa học công nghệ. Viện này được tổ chức thành 7 đơn vị, trong đó một đơn vị chuyên tư vấn chính sách cho Chính phủ, còn 6 đơn vị vận hành theo cơ chế gần với doanh nghiệp, đảm nhiệm các chức năng như hỗ trợ vốn, khởi nghiệp, chuyển giao công nghệ, nâng cấp doanh nghiệp và đào tạo.
Điểm cốt lõi mà PGS.TS Vũ Văn Tích nhấn mạnh là sự tách bạch rõ ràng giữa tư vấn và triển khai. Chính sách sau khi ban hành không “nằm trên giấy”, mà được giao cho viện trực tiếp thực hiện đến cùng.
Mỗi năm, Chính phủ Hàn Quốc cấp khoảng 20 tỷ USD cho viện này để hỗ trợ doanh nghiệp – con số vượt xa tổng nguồn lực dành cho khoa học công nghệ của Việt Nam (khoảng 4 tỷ USD). Với nguồn lực đó, viện triển khai khoảng 200 dự án mỗi năm, hỗ trợ doanh nghiệp dựa trên tiềm năng thị trường và năng lực công nghệ.
Viện triển khai khoảng 200 dự án mỗi năm, hỗ trợ doanh nghiệp theo hướng tiếp cận thị trường và công nghệ. Không chỉ doanh nghiệp nhỏ, các doanh nghiệp lớn cũng tiếp tục được hỗ trợ nếu chứng minh được hiệu quả và tiềm năng. Quy trình quản lý được xây dựng theo chuẩn quốc tế, tập trung vào đầu ra, minh bạch và hiệu quả.
"Chính mô hình này đã góp phần tạo nên hệ sinh thái doanh nghiệp Hàn Quốc phát triển mạnh mẽ, với sự kết hợp chặt chẽ giữa chính sách, khoa học công nghệ và thị trường", PGS.TS Vũ Văn Tích nhấn mạnh.
Trong khuôn khổ chuyến đi, đoàn công tác cũng xúc tiến một số hợp tác cụ thể, bao gồm hỗ trợ Đà Nẵng xây dựng nền tảng công nghệ tài chính liên quan đến tài sản mã hóa và tài chính số, học hỏi mô hình thí điểm tại Busan – nơi được Quốc hội Hàn Quốc cho phép thử nghiệm các cơ chế đặc thù.
Đồng thời, các bên đã ký kết hợp tác phát triển trung tâm nghiên cứu - đào tạo trong lĩnh vực bán dẫn, với sự tham gia của các trường đại học và doanh nghiệp Hàn Quốc cùng đối tác Việt Nam, trong đó có cả Gia Lai. Đây được xem là bước đi cụ thể nhằm hiện thực hóa mô hình hợp tác “ba nhà”, tạo nền tảng cho các ngành công nghệ chiến lược.
PGS.TS Vũ Văn Tích nhận định rằng, việc triển khai các lĩnh vực mới như tài sản số hay công nghệ tài chính đòi hỏi sự thận trọng do Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm. Tuy nhiên, nếu tận dụng tốt mô hình hợp tác quốc tế và các bài học từ Hàn Quốc, đây sẽ là cơ hội để bứt phá.
Phó Chủ tịch Ninh Thị Ty cảm ơn những chia sẻ từ PGS.TS Vũ Văn Tích, đồng thời nêu thực tế từ phía doanh nghiệp liên quan đến phát triển điện mặt trời áp mái.
Theo bà Ty, với đặc thù ngành dệt may sử dụng nhiều lao động nhưng nhu cầu điện không quá lớn, nhiều doanh nghiệp đã chủ động đầu tư hệ thống điện mặt trời áp mái. Tuy nhiên, sản lượng điện tạo ra thường dư thừa đáng kể, trong khi cơ chế hiện hành chưa cho phép bán điện hiệu quả, dẫn tới lãng phí nguồn lực. Tình trạng này cũng diễn ra tương tự ở các hộ gia đình, khi đầu tư điện áp mái nhưng không thể đưa phần điện dư vào hệ thống.
Từ thực tiễn đó, bà cho rằng nếu Việt Nam có thể áp dụng cơ chế linh hoạt như mô hình Hàn Quốc cho phép người dân và doanh nghiệp bán điện trực tiếp thì sẽ tận dụng được nguồn năng lượng sạch rất lớn từ mái nhà dân và nhà xưởng.
"Điều này không chỉ giúp tăng hiệu quả kinh tế mà còn góp phần giảm áp lực sử dụng đất cho các dự án điện mặt trời quy mô lớn, vốn đòi hỏi diện tích giải phóng mặt bằng đáng kể", Phó Chủ tịch HBA cho biết.
Bà Ninh Thị Ty cho rằng việc phát triển điện mặt trời áp mái trên diện rộng có thể giúp tiết kiệm hàng triệu hecta đất, thay vì phải xây dựng các nhà máy điện tập trung. Chỉ cần tận dụng mái của các nhà máy, khu công nghiệp hoặc hộ gia đình, nguồn điện tạo ra đã có thể đáp ứng nhu cầu đáng kể của hệ thống.
Từ góc độ doanh nghiệp, bà cũng kiến nghị cần sớm có cơ chế, chính sách phù hợp để thúc đẩy mô hình này, đặc biệt là đẩy nhanh quá trình hoàn thiện khung pháp lý để khai thác hiệu quả tiềm năng điện áp mái.
Phó Chủ tịch Ninh Thị Ty cũng đề cập đến cơ hội hợp tác giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Bà cho rằng, nếu các mô hình công nghệ do phía PGS.TS Vũ Văn Tích và các đơn vị nghiên cứu triển khai có thể kết nối với doanh nghiệp theo hướng chuyển giao hoặc thương mại hóa, thì sẽ tạo ra lợi ích song phương rõ rệt, góp phần thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất.
TƯ DUY TÁI ĐỊNH VỊ THỊ TRƯỜNG ĐẾN TẦM NHÌN QUẢN TRỊ GIÁ TRỊ CON NGƯỜI
Với vai trò điều phối và kết nối cộng đồng doanh nghiệp, Phó Chủ tịch thường trực VACOD Nguyễn Thị Thu Thủy dẫn dắt phần giao lưu, tạo cầu nối để các doanh nhân chia sẻ thực tiễn hoạt động và tìm kiếm hướng đi mới.
Mở màn là bà Nguyễn Thị Hương Lan, người sáng lập chuỗi ẩm thực New Sake trao đổi về quá trình chuyển đổi mô hình kinh doanh trong bối cảnh nền kinh tế trải qua nhiều biến động khó lường.
Bà Nguyễn Thị Hương Lan cho biết mô hình New Sake đã có lịch sử phát triển khoảng 25–27 năm, định vị ở phân khúc cao cấp và từng hoạt động rất thành công trong thời gian dài. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, mô hình này dần chững lại và không còn dư địa mở rộng, xuất phát từ những thay đổi khách quan của thị trường cũng như giới hạn nội tại của mô hình truyền thống.
Từ thực tế đó, doanh nghiệp đã lựa chọn hướng đi mới mang tính thử nghiệm: phát triển mô hình Food Court tại Royal City. Theo bà Lan, đây là cách “tái định vị” thương hiệu vẫn giữ chất lượng món ăn theo tiêu chuẩn New Sake, nhưng điều chỉnh cấu trúc giá xuống mức phổ thông hơn, phù hợp với nhóm khách hàng đại chúng trong bối cảnh tiêu dùng thắt chặt.
Khác với mô hình nhà hàng truyền thống, Food Court là tổ hợp ẩm thực đa thương hiệu trong cùng một không gian mở, nơi khách hàng có thể lựa chọn nhiều món ăn, phong cách khác nhau với mức giá linh hoạt. Điểm cốt lõi của mô hình này là tối ưu trải nghiệm: phục vụ nhanh, đa dạng lựa chọn, chi phí vận hành thấp hơn nhờ chia sẻ mặt bằng và hạ tầng. Trên thế giới, Food Court đã trở thành cấu phần quen thuộc trong các trung tâm thương mại, nhưng tại Việt Nam, đặc biệt ở phân khúc kết hợp giữa chất lượng cao – giá bình dân, mô hình này vẫn còn khá mới.
Bà Lan cho biết, sau khoảng thời gian vận hành thử nghiệm, dù chưa chính thức khai trương, mô hình bước đầu cho thấy tín hiệu tích cực về doanh thu và khả năng tiếp cận khách hàng. Nếu đạt hiệu quả như kỳ vọng, doanh nghiệp sẽ tiến tới nhân rộng, xây dựng các “khu phố ẩm thực” trong các trung tâm thương mại trên cả nước, từ miền Bắc đến miền Nam.
Tuy vậy, bà cũng thẳng thắn nhìn nhận đây vẫn là giai đoạn thử nghiệm và chưa thể khẳng định chắc chắn mức độ thành công. Việc chuyển từ mô hình cao cấp sang đại chúng không chỉ là bài toán giá, mà còn liên quan đến vận hành, kiểm soát chất lượng và khả năng thích ứng với thị hiếu thị trường.
Đánh giá về mô hình này, theo bà Nguyễn Thị Thu Thủy, đây là một cách tiếp cận phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Bà đánh giá cao tinh thần doanh nghiệp dám dấn thân, chủ động tìm kiếm hướng đi mới thay vì duy trì mô hình cũ khi dư địa tăng trưởng không còn rõ rệt.
"Với những doanh nghiệp đã ở phân khúc ổn định nhưng khó mở rộng, việc đầu tư quy mô lớn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do đó, triển khai các mô hình nhỏ, mang tính thử nghiệm là lựa chọn hợp lý: nếu thành công có thể nhanh chóng nhân rộng, còn nếu chưa hiệu quả thì vẫn kiểm soát được chi phí và rủi ro. Đây chính là cách đổi mới sáng tạo thực chất, giúp doanh nghiệp thích ứng linh hoạt và tìm kiếm động lực tăng trưởng mới", Phó Chủ tịch thường trực VACOD nhận định.
Về phần mình, bà Lê Thị Thuý Nga, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Helen Care, chia sẻ về xu hướng chăm sóc sức khỏe hiện đại.
Bà Nga cho biết Helen Care vừa tổ chức sự kiện Longevity Strategy (Chiến lược trường thọ) tại Hà Nội, đánh dấu lần đầu tiên chuỗi chương trình này được triển khai tại đây, sau nhiều lần tổ chức tại Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng trước đó. Đây là một sáng kiến nhằm tiếp cận sức khỏe theo hướng chủ động, cá nhân hóa và dựa trên nền tảng công nghệ sinh học.
Theo bà Nga, Helen Care đã có hơn 13 năm hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, khởi đầu với công nghệ tế bào gốc, sau đó mở rộng sang y học tái tạo, công nghệ sinh học và y học tích hợp. Các dịch vụ của đơn vị hiện tập trung vào hai nhóm chính: một là hỗ trợ điều trị bệnh bằng công nghệ sinh học tiên tiến; hai là chăm sóc, cải thiện sức khỏe cho những người chưa có bệnh nhưng mong muốn nâng cao thể trạng, làm chậm quá trình lão hóa và duy trì sự trẻ trung.
Điểm cốt lõi trong cách tiếp cận của Helen Care, theo bà Nga, không nằm ở việc kéo dài tuổi thọ đơn thuần, mà là nâng cao chất lượng sống trong suốt vòng đời. Trong khuôn khổ chương trình Longevity Strategy, doanh nghiệp triển khai các gói tầm soát sức khỏe chuyên sâu ở cấp độ tế bào, giúp mỗi người hiểu rõ hơn về cơ thể mình, từ đó có thể “đối thoại” với cơ thể sớm, thay vì chờ đến khi xuất hiện bệnh lý.
“Trong nhiều trường hợp, khi cơ thể lên tiếng thì đã là muộn. Việc hiểu cơ thể từ sớm là cách tốt nhất để phòng ngừa và tối ưu sức khỏe”, bà Nga nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, Helen Care liên tục cập nhật và đưa các công nghệ y khoa tiên tiến từ thế giới về Việt Nam. Theo quan điểm của bà Nga, người Việt Nam cần có quyền tiếp cận bình đẳng với các thành tựu y học hiện đại, không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý. Tại sự kiện lần này, đơn vị cũng quy tụ đội ngũ chuyên gia quốc tế, bao gồm bác sĩ đến từ Ấn Độ cùng các bác sĩ Việt Nam được đào tạo, tu nghiệp tại Úc và Mỹ.
Bà Nga nhấn mạnh thông điệp về giá trị cốt lõi của sức khỏe: “Người có sức khỏe có hàng trăm nghìn ước muốn, còn người không có sức khỏe thì chỉ có một ước muốn duy nhất là được khỏe mạnh”. Theo bà, việc đầu tư cho sức khỏe không chỉ là nhu cầu cá nhân, mà còn là nền tảng để mỗi người có thể thực hiện trọn vẹn các mục tiêu trong cuộc sống và sự nghiệp.
Trong không khí cởi mở, thẳng thắn nhưng giàu tính xây dựng, chương trình “Bữa sáng Doanh nhân” khép lại với nhiều gợi mở. Dưới sự điều phối của Phó Chủ tịch HBA Ninh Thị Ty và Phó Chủ tịch thường trực VACOD Nguyễn Thị Thu Thủy, các ý kiến không chỉ dừng ở trao đổi mà đã chạm tới những vấn đề cốt lõi của doanh nghiệp – từ chính sách, công nghệ đến mô hình phát triển.
Những câu chuyện thực tiễn, những kinh nghiệm quốc tế và các kiến nghị cụ thể đã cùng hội tụ, góp phần định hình tư duy đổi mới và mở ra hướng đi thiết thực cho cộng đồng doanh nghiệp trong bối cảnh nhiều biến động hiện nay.
