Từ những khối đất lấy từ đồng ruộng về, qua bàn tay khéo léo của người thợ, đất trở thành những đồ dùng gắn liền với đời sống, văn hóa của người dân ở địa phương và đi khắp cả nước.
Trải
qua hàng trăm năm phát triển với nhiều biến động của nền kinh tế thị
trường, nhất là khi đồ dùng kim loại ngày càng phổ biển và rất tiện lợi
trong sinh hoạt hàng ngày của người dân. Tưởng như nghề đất nung Vân Sơn
sẽ bị mai một, mất chỗ đứng. Thế nhưng, nghề đất nung ở làng gốm Vân
Sơn, xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn (Bình Định) đang còn tồn tại đến ngày
nay.
Từ những khối đất qua bàn tay khéo léo người thợ đã trở thành những vật dụng gần gũi trong đời sống người dân
Làng đất nung Vân Sơn được biết đến là một trong những làng gốm cổ nhất Bình Định với cá sản phẩm đất nung phục vụ đời sống thường ngày như nồi, niêu, ấm sắc thuốc, ảng đực nước, chậu cảnh, lò nấu…
Tuy
không phong phú về chủng loại sản phẩm nhưng thương hiệu gốm Vân Sơn
lại đang hiện hữu trong đời sống hàng ngày của dân địa phương. Đặc biệt
đã có mặt ở nhiều tỉnh thành ở miền Trung – Tây Nguyên như Huế, Đà Nẵng,
Quảng Nam đến tận miền nam như Kiên Giang, Rạch Giá rồi ra tận Bắc Ninh
ở phía bắc.
Công đoạn đầu tiên là phải nhào đất thật nhuyễn tạo độ dẻo, mịn láng cho sản phẩm
Theo
những nghệ nhân làm nghề đất nung Vân Sơn cho biết, để làm được ra sản
phẩm đến người tiêu dùng phải qua nhiều công đoạn rất tỉ mỉ từ nhào đất
sao cho nhuyễn tạo độ dẻo, mịn… đến công đoạn tạo ra sản phẩm, xong làm
nguội làm láng của sản phẩm và cuối cùng là cho vào lò nung thành những
sản phẩm đất nung mang thương hiệu gốm truyền thống Vân Sơn.
Những người phụ nữ trong thôn rất tâm huyết với nghề
Ông
Cao Văn Bình (52 tuổi, ở thôn Vân Sơn) người làm gốm lâu năm theo cha
truyền con nối cho biết: “Để làm được sản phẩm đất nung chuẩn mực yêu
cầu phải là đất phù sa hay đất sét, đất được nhào đạp cho thật nhuyễn,
tiếp đến phơi khô, tán nhuyễn rồi rây bỏ tạp chất để làm sao đất đảm bảo
tính mềm, dẻo, mịn để khi tạo ra một sản phẩm không bị nứt, vỡ. Công
đoạn làm thô, đòi hỏi người thợ phải có kỹ thuật, khéo léo. Sau khi tạo
hình xong, chờ cho ráo mặt, người thợ dùng một thanh sắt mỏng để miết
lên bề mặt sản phẩm tạo độ láng, loại bỏ chi tiết thừa, nặn quay gắn vào
tùy theo sản phẩm, trang trí hoa văn và cuối cùng là cho vào lò nung”.
Ông Bình người làm nghề lâu năm ở thôn Vân Sơn đang làm bóng lại những chiếc ấm để chuẩn bị vào lò
Công đoạn vào lò đặc biệt quan trọng
Ngày
nay, trước việc đồ dùng kim loại phổ biến thì nghề làm gốm Vân Sơn cũng
đang đứng trước khó khăn nhất định. Bởi nguồn đất hiếm, chi phí cao,
sản phẩm làm ra bán rẻ mạt, trong khi để có một sản phẩm bán ra thị
trường tốn nhiều công sức và thời gian.
Cuối cùng là những sản phẩm được bán ra thị trường
Chị
Võ Thị Phụng (38 tuổi, người làm nghề gốm ở thôn Vân Sơn) chia sẻ:
“Trước đây nguồn đất còn nhiều, mỗi một xe bò chỉ mua mất tốn 50 ngàn
đồng, giờ đất hiếm phải mất 100 ngàn đồng. Trong khi, để có được một bếp
lò phải mất 5 – 6 ngày nhưng chỉ bản từ 8 – 27 ngàn/ lò, tùy vào lò nhỏ
hay to”.
Theo Doãn Công
Dân trí