Sản xuất công nghiệp phục hồi rõ nét hơn : chỉ số PMI tháng 9 tăng cao nhất kể từ khi tiến hành khảo sát (đạt 51,5) nhờ sự gia tăng các đơn hàng mới đặc biệt đơn hàng xuất khẩu tăng mạnh nhất trong vòng lịch sử khảo sát của HSBC kéo dài 2,5 năm. Ngoài ra, chỉ số phát triển công nghiệp (IIP) phục hồi dần qua các quý: quý I tăng 4,5%, quý II tăng 5,2%, quý III ước tăng 6%. Tính chung 10 tháng đầu năm, IIP tăng 5,4% trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có mức phục hồi khá hơn mặt bằng chung ở mức 6,8%.
Nguồn vốn FDI khả quan và cơ cấu vốn tích cực: Tính
đến tháng 10/2013, FDI thu hút đạt trên 19 tỷ USD, tăng 65,6%, vốn FDI
thực hiện đạt 9,58 tỷ USD, tăng 6,4%. Lĩnh vực sản xuất công nghiệp, chế
biến chế tạo, thiết bị điện tử vẫn là các lĩnh vức hấp dẫn nhất, trong 9
tháng chiếm 86,4% tổng vốn cấp mới & tăng thêm và tăng gấp 2 lần so
với cùng kỳ giúp VN cải thiện năng lực sản xuất dài hạn và phát triển
các ngành công nghiệp phụ trợ.
Trong 10 tháng đầu năm, xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng khá (tăng 15,2%), nhập siêu ở mức thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây (thâm
hụt 187 triệu USD). Trong đó, khu vực FDI hiện vẫn là trụ cột trong
hoạt động xuất khẩu với tỷ trọng 61,3% tổng kim ngạch xuất khẩu (tăng
27,2% so với cùng kỳ). Trong khi đó, do chịu tác động mạnh của chính
sách trong nước, hoạt động xuất nhập khẩu của khu vực doanh nghiệp trong
nước sụt giảm mạnh hơn kể từ năm 2011 so với khu vực FDI (Hình 1).
Xu hướng có phần cải thiện hơn trong năm 2013 so với năm 2012 khi hoạt
động động xuất khẩu và nhập khẩu của khu vực này lần lượt tăng 3% và
3,5% so với cùng kỳ. Tăng trưởng nhập khẩu nhóm hàng nguyên liệu phục vụ
sản xuất và máy móc phục vụ sản xuất cũng tăng khá cho thấy triển vọng
phục hồi sản xuất trong nước sáng sủa hơn.
![]() |
Tuy nhiên, khả năng đạt được mục tiêu tăng trưởng 5,5% cũng như việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao hơn trong trung hạn đang gặp nhiều thách thức. Phân tích xu thế tăng trưởng dài hạn cho thấy tăng trưởng đang trong xu thế giảm kể từ năm 2006 đến nay do hiệu quả tăng trưởng thấp, mô hình tăng trưởng không còn phù hợp (Hình 2). Mặc dù thành phần tăng trưởng do chu kỳ đã bắt đầu cải thiện từ quý 2/2013 (Hình 3), nhưng sự phục hồi tăng trưởng nhanh hơn còn nhiều thách thức do: tăng trưởng còn phụ thuộc vào cầu bên ngoài biến đổi khó lường (xuất khẩu và khu vực FDI), trong khi động lực cho tăng trưởng trong ngắn hạn là nguồn vốn đầu tư phát triển từ ngân sách bị hạn chế bởi cân đối ngân sách khó khăn, nợ công ng tăng cao và cầu nội địa trong nước còn chậm hồi phục khiến cho sản xuất khó tăng trưởng mạnh và doanh nghiệp trong nước vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn. Do đó, cần phải đẩy mạnh tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế trong vòng 2-3 năm tới nhằm nâng cao năng suất của nền kinh tế, cải thiện tốc độ tăng trưởng dài hạn.
![]() |
Lạm phát
Lạm phát tiếp tục giảm xuống mức thấp. Lạm phát theo tháng có xu hướng tăng kể từ tháng 6 và đạt mức cao trong hai tháng cuối quý 3/2013 (bình quân tháng trong quý 3 tăng 0,7% so với mức âm của quý trước). Tuy nhiên, CPI các tháng này chịu tác động chủ yếu của việc điều chỉnh mùa vụ (giá các hàng hóa, dịch vụ công do nhà nước quản lý) chứ không phải do các yếu tố cơ bản của lạm phát tăng, đặc biệt là tổng cầu hiện vẫn còn thấp (Hình 4). Sang tháng 10/2013, lạm phát so với cùng kỳ giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 2010 (5,92%) và lạm phát cơ bản cũng trong xu hướng giảm (từ mức 10% trong tháng 9 xuống còn 8,85%). So với tháng trước, CPI tăng 0,49% do sự tăng lên của nhóm hàng lương thực thực phẩm và nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng.
![]() |
Trong quý 4/2013, phân tích yếu tố chu
kỳ cho thấy đây là quý có mức tăng cao nhất trong năm, tuy nhiên sức cầu
còn yếu nên sẽ hạn chế đáng kể đà tăng giá trong các tháng tới. Các yếu
tố chính gây tăng giá trong quý này bao gồm: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn
uống tăng, nhu cầu mua sắm theo thời vụ các tháng cận Tết, khả năng
điều chỉnh giá xăng dầu, gas. Dự báo lạm phát bình quân tháng sẽ dao
động trong khoảng 0,6-0,8% nếu không có điều chỉnh đột biến về giá các
mặt hàng nhà nước quản lý.
Tính đến tháng 10, CPI tăng 5,14% so với
đầu năm, do đó dư địa còn lại cho lạm phát quý 4 là 1,9% tương ứng với
mức bình quân tháng khoảng 0,63%. Lạm phát cả năm 2013 dự báo vẫn được kiểm soát xung quanh mức 7% nếu
như có sự quản lý và điều tiết tốt việc điều chỉnh giá các mặt hàng và
dịch vụ do nhà nước quản lý. Đây sẽ là thành quả nổi bật của kinh tế
Việt Nam trong việc duy trì lạm phát ổn định liên tiếp 2 năm giúp ổn
định kỳ vọng lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
Khu vực Ngân sách Nhà nước: cân đối ngân sách tiếp tục khó khăn.
Thu Ngân sách Nhà nước lũy kế đến 15/10
ước đạt 70,1% dự toán, thấp hơn so với cùng kỳ 2 năm trước cũng như so
với yêu cầu tiến độ thực hiện dự toán20. Thu Ngân sách Nhà nước tiếp tục
đạt thấp do thu nội địa và thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu chỉ
đạt 68,5% và 62,5% dự toán do sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn
còn khó khăn, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chịu thuế giảm so cùng
kỳ. Bên cạnh đó, nguồn thu từ dầu thô – nhân tố chính bù đắp hụt thu từ
thu nội địa và thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu chỉ đạt 86,4% dự
toán, thấp hơn nhiều so với 103,6% và 116,9% dự toán của cùng kỳ năm
2012 và 2011. Vì vậy, thu Ngân sách Nhà nước trong năm 2013 khó khăn hơn năm 2012, hụt thu khoảng 63.630 tỷ đồng.
Sang năm 2014, thu Ngân sách Nhà nước
vẫn đối mặt với nhiều khó khăn như tình trạng nợ đọng thuế, chuyển giá;
sự phục hồi sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn chậm, giảm thu
chính sách giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và giá dầu thô thế giới giảm.
Do vậy, cần có những biện pháp triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, cơ
cấu lại hệ thống các cơ quan hành chính, đoàn thể, đẩy mạnh xã hội hóa
đầu tư công
Thị trường tiền tệ - ngoại hối.
Thị trường tiền tệ tiếp tục ổn định, mặc dù có vài biến động ngắn hạn trong
trung tuần tháng 10 do tâm lý đón đầu nhu cầu tín dụng tăng vào cuối
năm mang tính chất mùa vụ. Trong 10 tháng qua, rủi ro của hệ thống tổ
chức tín dụng đã giảm bớt với những chuyển biến tích cực như: (1) thanh
khoản hệ thống dồi dào với sự gia tăng mạnh của tiền gửi của khu vực dân
cư và TCKT (hệ LDR giảm) khiến cho mặt bằng lãi suất huy động, cho vay
và cả LNH giảm mạnh xuống mức thấp ngang với thời điểm năm 2006; (2) cơ
cấu tín dụng cũng có sự chuyển biến tích cực với việc cơ cấu kỳ hạn, cơ
cấu đồng tiền trở nên hợp lý hơn (tín dụng VNĐ tăng trong khi tín dụng
ngoại tệ giảm), đường cong lãi suất hợp lý hơn theo nguyên lý kinh tế.
Tính đến cuối tháng 9, tăng trưởng tín dụng đạt 6,82%, cao hơn so với
cùng kỳ và chiếm hơn 50% kế hoạch. Để đạt được kế hoạch cả năm, tốc độ
tăng bình quân các tháng cuối năm cần phải đạt mức 1,7%/tháng.
Trên thị trường ngoại hối, tỷ
giá hối đoái từ đầu năm đến nay khá ổn định và chỉ có vài biến động nhỏ
mang tính thời vụ và tâm lý nhất thời. Theo nhận định của UBGSTCGQ, thị
trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì
được sự ổn định trong những tháng cuối năm 2013 do cung ngoại tệ tiếp
tục dồi dào (nguồn cung FDI, ODA, kiều hối khả quan) trong khi cầu ngoại
hối trên thị trường trong những tháng cuối năm vẫn chưa thực sự khởi
sắc.
Thị trường chứng khoán tiếp
tục có những dấu hiệu khởi sắc, biểu hiện: (1) Chỉ số Vn-index cải
thiện qua từng tháng; (2) Thanh khoản tuy chưa cao nhưng ổn định qua
từng phiên giao dịch và tăng dần từng tháng; (3) Các nhà đầu tư nước
ngoài có xu hướng quay lại thị trường; (4) Phân tích kỹ thuật cũng cho
thấy nhiều khả năng thị trường đã qua đáy trung và dài hạn. Như vậy, sự
phục hồi của nền kinh tế trong nước cùng với khả năng gói QE3 của nước
Mỹ được kéo dài ít nhất hết năm 2013 đã khiến kỳ vọng về diễn biến thị
trường chứng khoán lạc quan hơn trong những tháng cuối năm.
Kiến nghị
Về định hướng chung:
những chính sách được thực hiện trong thời gian qua với định hướng ổn
định vĩ mô, kiềm chế lạm phát đã đạt được những kết quả nhất định. Chính
sách điều hành trong thời gian tới cần kiên trì mục tiêu ổn định vĩ mô,
kiềm chế lạm phát đã đề ra nhằm tiếp tục cải thiện môi trường kinh tế
trong nước và củng cố niềm tin của nhà đầu tư và thị trường. Đồng thời,
để thúc đẩy tăng trưởng, một mặt cần có giải pháp chung từ tổng vốn đầu
tư xã hội ở mức cần thiết (30-32% GDP), mặt khác cần tập trung đẩy nhanh
quá trình tái cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất nền kinh tế.
Về công tác quản lý giá:
lạm phát trong những tháng vừa qua tăng khá mạnh so với giai đoạn đầu
năm. Dù vậy, như đã phân tích, CPI tăng trong những tháng qua không phải
do những yếu tố cơ bản mà chủ yếu là do việc chủ động điều chỉnh giá
các mặt hàng cơ bản và dịch vụ công. Vì vậy, việc điều chỉnh giá các mặt
hàng cơ bản và dịch vụ công cần có sự phối hợp, tránh việc tăng giá tùy
ý (về thời điểm tăng giá, mức tăng giá…) nhằm tránh gây tác động lạm
phát tâm lý trong thời gian tới.



