Theo
nội dung Quyết định số 958/QĐ-TTg, trong bối cảnh nhu cầu vốn cho phát
triển kinh tế - xã hội lớn, khả năng huy động nguồn nội lực chưa đáp ứng
đầy đủ nên việc huy động từ các nguồn vốn vay nợ trong và ngoài nước là
cần thiết và có vai trò hết sức quan trọng. Đồng thời, việc huy động
vốn vay và trả nợ phải nằm trong giới hạn các chỉ tiêu an toàn về nợ
công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia và đảm bảo an ninh tài
chính quốc gia.
Về chỉ tiêu cụ thể, sẽ vay trong và ngoài nước để
bù đắp bội chi ngân sách nhà nước theo hướng giảm dần bội chi, phấn đấu
đến năm 2015 (tính cả trái phiếu Chính phủ) dưới 4,5% GDP, giai đoạn
2016 - 2020 tương đương khoảng 4% GDP và giai đoạn sau năm 2020 bình
quân khoảng 3% GDP.
Tổ chức phát hành trái phiếu Chính phủ để
thực hiện chương trình đầu tư cho các công trình giao thông, thủy lợi, y
tế, giáo dục. Nhu cầu vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2011 – 2015 có
tổng mức tối đa là 225.000 tỷ đồng, bình quân mỗi năm 45.000 tỷ đồng;
giai đoạn 2016 – 2020 sẽ phát hành tối đa là 500.000 tỷ đồng trái phiếu,
trong đó dành khoảng 350.000 tỷ đồng để đầu tư phát triển, phần còn lại
dành để đảo nợ.
Huy động vốn vay để bổ sung cho thực hiện đề án
xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2011 – 2020 khoảng 550.000 tỷ đồng, bình
quân tối đa 55.000 tỷ đồng/năm.
Tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp
tiếp cận nguồn vốn nước ngoài thông qua cơ chế vay về cho vay lại và
thực hiện bảo lãnh Chính phủ cho một số chương trình, dự án quan trọng
thuộc danh mục ưu tiên của Chính phủ với mức độ hợp lý, trong khuôn khổ
giới hạn an toàn về nợ công.
Vay nước ngoài của doanh nghiệp, tổ
chức tín dụng phải nằm trong hạn mức vay nợ nước ngoài của quốc gia hàng
năm do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Cơ cấu dư nợ nước ngoài
của Chính phủ trong tổng số dư nợ của Chính phủ phải giảm xuống dưới
50%, đảm bảo duy trì cơ cấu dư nợ cho vay ODA tối thiểu đạt khoảng 60%
so với tổng dư nợ nước ngoài của Chính phủ vào năm 2020. Đồng thời, gắn
với việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, không để xảy ra tình trạng nợ
quá hạn, làm ảnh hưởng đến các cam kết quốc tế của Chính phủ.
Bên
cạnh đó, cần duy trì các chỉ số nợ công, nợ Chính phủ và nợ nước ngoài
của quốc gia ở mức an toàn được Quốc hội phê chuẩn trong từng giai đoạn
và từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế. Bảo đảm nợ công (bao gồm nợ
Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương) đến
năm 2020 không quá 65% GDP, trong đó dư nợ Chính phủ không quá 55% GDP
và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP.
Nghĩa vụ trả nợ
trực tiếp của Chính phủ (không kể cho vay lại) so với tổng thu ngân sách
nhà nước hàng năm không quá 25% và nghĩa vụ trả nợ của nước ngoài của
quốc gia hàng năm dưới 25% giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ. Đồng
thời, đảm bảo chỉ tiêu tỉ lệ dự trữ ngoại hối nhà nước so với tổng dư nợ
nước ngoài ngắn hạn hàng năm trên 200%...
Cũng theo Chiến lược
này, sẽ từng bước giảm dần nợ công, đến năm 2030 nợ công không quá 60%
GDP, trong đó nợ Chính phủ không quá 50% GDP và nợ nước ngoài của quốc
gia không quá 45% GDP.
Một trong những giải pháp thực hiện chiến
lược trong giai đoạn 2011 – 2015 là nghiên cứu, ban hành cơ chế chính
sách về PPP (đối tác công tư), BOT, BTO, BT… nhằm xã hội hóa các nguồn
vốn huy động cho phát triển, từng bước thay thế nguồn vốn ODA đang có xu
hướng giảm dần và giảm gánh nặng đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước.
Định
hướng huy động vốn vay sẽ theo nguyên tắc vốn trong nước là quyết định
và vốn nước ngoài là quan trọng. Tập trung huy động tối đa nguồn vốn
ODA, hợp lý đối với nguồn vốn vay ưu đãi nước ngoài và thận trọng đối
với các nguồn vốn vay thương mại nước ngoài.
Chiến lược này được
thực hiện thông qua hai giai đoạn 5 năm, từ 2011 – 2015 và 2016 – 2020
và được cụ thể hóa theo các đề án chi tiết.
Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký.
(VnMedia)
