
Dư địa cải cách thể chể đang rất lớn
Hầu hết các ý kiến đóng góp đều cho rằng, đề án cần phải đặt vấn đề cải
cách thể chế là ưu tiên số 1, phải đi trước tiên. Tuy nhiên, nội dung
cải cách thể chế lại thể hiện dấu ấn rất rõ nét trong đề án này. Chỉ
khác rằng, TS Nguyễn Đình Cung, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý
kinh tế Trung ương, vị chuyên gia vốn từng phát biểu mạnh mẽ về vấn đề
cải cách thể chế lại không nhấn mạnh một cách khu biệt vấn đề này như
một giải pháp độc lập, đầu tiên khi soạn thảo đề án.
Theo TS Nguyễn Đình Cung, dư địa nâng cấp thể chế của chúng ta còn rất
lớn. Đó chính là việc đổi mới phần lớn hệ thống pháp luật về đầu tư và
kinh doanh hiện nay.
"Tôi không rõ, mọi người nói đột phá cái gì, ở đâu, như thế nào, thể
chế nói đến là thể chế nào. Nhưng nếu nói về thể chế ở đây, đó chính là
đổi mới căn bản cách thức quản lý đầu tư, đổi mới cách thức phối hợp
phát triển vùng, đổi mới cách thức quản lý vốn chủ sở hữu tại các doanh
nghiệp hay cách thức quản lý DNNN nói chung", ông Cung chia sẻ.
TS Nguyễn Đình Cung nhấn mạnh, mục tiêu cốt yếu của đề án là nâng cao
hiệu quả sử dụng nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh
tế. Chìa khóa để đạt mục tiêu này chính là việc thay đổi cơ chế phân bổ
nguồn lực trong xã hội nhằm làm cho nền kinh tế vận hành hiệu quả hơn.
Vậy thì, những biện pháp nào khả thi, đạt mục tiêu đó thì sẽ được ưu
tiên lựa chọn và dễ đạt sự đồng thuận, chấp nhận hơn.
Ông Cung cho rằng, trong hệ thống tư duy hiện nay vẫn đang cho phép
chúng ta làm việc đó. Khi dư địa cải cách, nâng cấp thể chế còn lớn, còn
chưa khai thác hết thì cần phải tận dụng khai thác hết dư địa này. Sau
những cuộc thảo luận như hiện nay, trải qua một thời gian, tích lũy kiến
thức, kinh nghiệm thì có thể sẽ cần đến một cấp độ cải cách mang tính
thay đổi toàn diện hơn.
Nói cách khác, nhìn lại 13 giải pháp của đề án, dù không nhắc đến cụm
từ "cải cách thể chế" thì bản chất ở từng nhóm giải pháp, đều mang nội
hàm vấn đề này.
Đơn cử như ở nhóm giải pháp thứ hai về tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín
dụng, đề án đặt yêu cầu phải sớm sửa đổi Luật ngân sách Nhà nước. Ở nhóm
giải pháp thứ 3 về sử dụng vốn Nhà nước, đề án đề nghị phải sớm ban
hành Luật Quản lý đầu tư công, Nghị định quản lý đầu tư trung hạn...
Đáng chú ý hơn, tại nhóm giải pháp thứ 4 về đổi mới toàn diện cơ chế
quản lý DNNN, bản đề án này cũng đặt vấn đề phải có cơ chế áp đặt
nguyên tắc thị trường cạnh tranh đối với DNNN, nhất là các Tập đoàn,
Tổng công ty Nhà nước, có cơ chế minh bạch, công khai thông tin, thậm
chí, công bố cả thông tin về nhân thân, trình độ chuyên môn của những vị
lãnh đạo các DNNN...
Một loạt các Luật như Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư...
cũng yêu cầu phải sửa đổi sớm trong nhóm giải pháp thứ 5 về hoàn thiện
thể chế thị trường.
Một cách thẳng thắn, TS Cũng nói rằng, chính vấn đề cải cách thể chế
này muốn nhanh, muốn mạnh lại nằm ở Quốc hội. Ngay như việc sửa Chương 2
của Hiến pháp, hoàn thiện khung pháp lý thì Quốc hội phải khẩn trương
hơn.
Chỉ khi nào, chúng ta thay đổi hệ thống động lực khi phân bổ nguồn lực
trong xã hội theo các nguyên tắc như công khai, bình đẳng, hiệu quả...
thì sẽ giảm bớt cơ chế xin cho, bớt đi dư địa cho loại hình kinh doanh
chỉ tìm kiếm địa tô, đầu cơ trục lợi, và thúc đẩy tìm kiếm lợi nhuận
dựa trên cạnh tranh, công nghệ, sáng tạo...
Nhiều ý kiến các chuyên gia phản biện đòi hỏi, đề án tái cơ cấu phải
đào đến tận gốc vấn đề: như vấn đề nhân sự cấp cao, như quan điểm kinh
tế thị trường như thế nào, quan điểm kinh tế Nhà nước hay tư nhân là chủ
đạo?
Nhưng nếu đứng ở phương diện người chủ trì, với mong muốn phải sớm đưa
đề án vào cuộc sống, các nhà soạn thảo đề án thường sẽ phải chọn một
cách khôn khéo hơn, đi đường vòng thay vì đường thẳng.
Dù không nhắc đến một dòng nào về đổi mới tư duy kinh tế thị trường thì
có nhiều giải pháp đưa ra sẽ đòi hỏi, phải thay đổi các đầu mới thực
hiện được. Ví như cụm giải pháp áp đặt nguyên tắc thị trường với DNNN,
loại bỏ 4 ưu tiên cho DNNN do thể chế hiện hành tạo ra như đặc quyền
tiếp cận thông tin từ cơ quan quản lý NN, tiếp cận đất đai, tiếp cận tín
dụng và tham vấn chính sách.
Xét ở góc độ nào đó, lo ngại đề án nếu đi thẳng vào những giải pháp
vượt quá tầm quyết định ở một kỳ họp Quốc hội, lo ngại tình trạng bàn
nhiều, bàn mãi và đi đến ngõ cụt không phải là không có cơ sở đối với
chính đơn vị chắp bút đề án này.
Vẫn đang nói nhiều, làm ít
Thử nhìn lại tiến trình tái cơ cấu ở 3 khu vực ngân hàng, doanh nghiệp
Nhà nước và đầu tư công, có thể hiểu lo ngại trên là chính đáng.
Đánh giá sơ bộ, ông Nguyễn Đình Cung, cho đến nay, tái cơ cấu ngành
ngân hàng làm nhanh và mạnh nhất. Kết quả đã thể hiện rõ ở mức nhất định
và góp phần ổn định lại thị trường tài chính, lãi suất, từ đó, góp phần
rất lớn trong ổn định kinh tế vĩ mô. Động thái mạnh mẽ nhất là vụ sáp
nhất 3 ngân hàng yếu thanh khoản hồi đầu năm nay, là việc công bố nhóm
ngân hàng đáp ứng chỉ tiêu về tăng trưởng tin dụng...
Đối với tái cơ cấu đầu tư công, chiến dịch này đã làm được một việc hết
sức quan trọng là chấm dứt cơ chế đầu tư dàn trải phân tán thiếu cục
bộ. Vốn của năm 2012 đã được phân bố tập trung hơn, đồng bộ hơn ưu tiên
hơn, dù mới là ưu tiên theo tiêu chí tốc độ hoàn thành thay vì tiêu chí
tính hiệu quả.
Tuy nhiên, kết quả tái cơ cấu đầu tư công không thể có sớm ngày một
ngày hai như với tái cơ cấu ngân hàng, có thể phải chờ một năm sau mới
có.
Lĩnh vực thứ ba, ra đời sớm nhất nhưng lại chậm chạp nhật, là tái cấu
trúc DNNN. Cho đến nay, chương trình cổ phần hóa đang dậm chân tại chỗ,
Bộ Tài chính mới chỉ làm được một việc là yêu cầu các Tập đoàn, Tổng
công ty ký cam kết cắt giảm 5-10% giá thành sản xuất, tiết kiệm chi
tiêu.
Nhìn một cách công bằng, hầu hết các giải pháp tái cơ cấu 3 bộ phận
trên đều đã được bàn thảo rất nhiều lần, thậm chí, đã được thể chế hóa
bằng các Nghị định... nhưng, thực tế vẫn không thực hiện được.
Chẳng hạn như, tái cơ cấu đầu tư công đã đi được 3 năm, với tiền đề là
cuộc rà soát, cắt giảm đầu tư công hồi năm 2009 nhưng đến nay, tính hiệu
quả vẫn chưa đạt. Có tới hơn 4.600 dự án có sử dụng trên 30 vốn Nhà
nước vẫn chậm tiến độ, 145 dự án vốn ngân sách vẫn vi phạm, thất thoát
và lãng phí.
Theo TS Vũ Thành Tự Anh, xương sống của tái cấu trúc DNNN bấy lâu này
được nói tới nhiều nhất là chương trình cổ phần hóa. Tuy được khởi động
vào năm 1992, tức đã có thâm niên 20 năm nhưng hiện nay, ngày càng chậm.
Trong bốn năm, từ 2008 đến 2011, chỉ có 117 DNNN được cổ phần hóa - tức
là tương đương với số lượng doanh nghiệp được cổ phần hóa trong năm
2007 và thấp hơn nhiều lần so với mấy năm trước đó. Nguyên nhân của sự
đình trệ trong tiến độ cổ phần hóa thì nhiều, một là do bong bóng chứng
khoán vỡ năm 2008 và thứ hai là do cổ phần hóa kiểu "nắm lớn, buông
nhỏ". Hậu quả là hiện, những DNNN còn lại nằm trong danh sách cổ phần
hóa đa phần có quy mô vừa và lớn, thậm chí rất lớn.Với những xung đột về
lợi ích, tới đây, khó mà hi vọng sẽ có kết quả đột biến cổ phần hóa vào
những năm tới.
"Chương trình cổ phần hóa cho đến thời điểm này không những chưa đạt
được mục tiêu về số lượng, mà còn chưa góp phần chuyển đổi sở hữu nhà
nước một cách đáng kể. Không những thế, tại các doanh nghiệp đã cổ phần
hóa, tỷ lệ sở hữu giữ lại của nhà nước có khuynh hướng tỷ lệ thuận với
quy mô của doanh nghiệp. Ở các doanh nghiệp lớn, tỷ lệ sở hữu của nhà
nước thường chiếm vai trò chi phối. Kết quả là hệ thống quản trị doanh
nghiệp không được thay đổi đáng kể, và do vậy kết quả kinh doanh cũng ít
được cải thiện", TS Vũ Thành Tự Anh đánh giá.
Cũng vì thế, TS Cung cho rằng, quan trọng nhất hiện nay là hành động và
quyết tâm chính trị lớn. Khi tinh thần tái cơ cấu kinh tế ngấm tới
từng địa phương, từng cán bộ chủ chốt thì từ đó, mới mong có sự thay đổi
toàn diện.
Phải chẳng, trong 13 nhóm giải pháp, chỉ cần thực hiện một phần những
cái không mới, không đột phá thì nền kinh tế cũng đã bớt đi được phần
nào căn bệnh yếu kém nội tại hiện nay?
Phạm Huyền
