Chương trình Diễn đàn diễn ra tại Hội trường tầng 3, Trung tâm Triển lãm Nông nghiệp – Phát triển nông thôn, số 489 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội.
Diễn đàn diễn ra với mục đích nhằm chia sẻ tình hình triển khai xây dựng nông thôn mới trên cả nước cũng như phản hồi từ các địa phương, doanh nghiệp về vấn đề thu hút đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn đồng thời thảo luận các giải pháp để phát huy vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng nông thôn mới.
Đúng 9h00 chương trình chính thức bắt đầu.

Đông đảo các khách mời tới tham dự

Thực hiện Nghị quyết số 26/NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương 7 (khóa X) ngày 05/08/2008 về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 bước đầu đạt được những thành tựu rất quan trọng, thu hút được sự quan tâm và tham gia của toàn xã hội. Thực tế, sau hơn 3 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới, bộ mặt của nông thôn đã có nhiều đổi thay. Những công trình giao thông, những mô hình sản xuất mới được đầu tư hàng trăm tỷ đồng… đã phản ánh sự chung sức, đồng lòng của mọi người dân cho Chương trình. Về cơ bản, đời sống của nhiều thôn, xã triển khai mô hình xây dựng Nông thôn mới đã có những thay đổi khá tích cực.
Bà Hằng nhấn mạnh: “Với khoảng 70% cư dân đang sống tại nông thôn, xây dựng Nông thôn mới có ý nghĩa rất lớn cả về kinh tế-chính trị-xã hội. Hoạt động của các doanh nghiệp ở khu vực nông thôn không chỉ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn từ thuần nông sang cơ cấu kinh tế đa dạng hơn, tạo ra việc làm cho lao động ở khu vực nông thôn, giúp người nông dân tăng thu nhập. Nếu làm tốt, chương trình sẽ giải quyết được những vấn đề cơ bản cho xã hội như điều hòa lợi ích, giúp người nông dân được hưởng thành quả của công cuộc đổi mới, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn”.
Cũng theo bà Hằng, để biến những mục tiêu tốt đẹp của Chương trình xây dựng Nông thôn mới thành hiện thực, mọi nguồn lực cần được huy động một cách hiệu quả, đặc biệt là cộng đồng DN. Mặc dù, nhà nước đã có nhiều chính sách thu hút doanh nghiệp vào khu vực này song kết quả chưa được như mong đợi.
Có thể thấy đầu tư của doanh nghiệp vào khu vực nông thôn còn rất hạn chế, nhiều rủi ro, giá trị gia tăng trong sản phẩm nông nghiệp hàng hóa (cả tiêu thụ trong nước và xuất khẩu) còn thấp, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông lâm nghiệp và thủy sản. Hiện nay số lượng doanh nghiệp tập trung ở khu vực thành thị chiếm tỷ lệ cao, số lượng doanh nghiệp ở khu vực nông thôn chiếm khoảng trên 30%. Doanh nghiệp nông thôn thường có quy mô nhỏ hơn và lợi nhuận thấp hơn. Điều này phản ánh các chính sách khuyến khích đầu tư khu vực nông thôn chưa phát huy được tác dụng hoặc mức độ tác động của các chính sách này chưa lớn, chưa thực sự hiệu quả.
Khu vực doanh nghiệp của Việt Nam nói chung, và đặc biệt doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn nói riêng đang đứng trước nhiều khó khăn trong bối cảnh phát triển kinh tế trong nước và thế giới. Trong quá trình phát triển, doanh nghiệp ở nông thôn cũng gặp phải không ít những khó khăn, trong đó có cả các yếu tố khách quan như: cơ sở hạ tầng ở nông thôn còn nghèo nàn lạc hậu, môi trường kinh doanh còn có nhiều điểm chưa thuận lợi; khả năng quản lý nguồn nhân lực và tiếp cận thị trường còn hạn chế v.v… Do đó mục tiêu hướng về nông thôn, phục vụ nông dân của các doanh nghiệp thường gặp phải những rào cản đáng kể.
Bà Hằng nhấn mạnh, trong bối cảnh đó, việc triển khai Chương trình xây dựng Nông thôn mới là chủ trương hết sức kịp thời và phù hợp, trong đó cần nhấn mạnh đến vai trò của các doanh nghiệp như những chủ thể quan trọng tạo nên sự thay đổi.
Để tận dụng các cơ hội này, phải tạo được sức mạnh tổng hợp, tập trung đổi mới phương thức đầu tư trong các ngành nông nghiệp và vào khu vực nông thôn, chẳng hạn như: Xây dựng và phát triển hệ thống chính sách kinh tế liên hoàn dành cho nông nghiệp nông thôn: định chế tài chính và đầu tư đến tận nông hộ, ưu đãi đầu tư và thuế cho các ngành liên thông với nông nghiệp. Đồng thời phải xây dựng chiến lược tập trung đầu tư cho nông nghiệp trong toàn bộ chuỗi giá trị gia tăng của nông nghiệp Việt Nam thông qua việc xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm và dịch vụ tất cả các khâu trong chuỗi giá trị nông nghiệp chủ lực từ chiều sâu đến chiều rộng.
“Tại Diễn đàn này, chúng tôi muốn các doanh nghiệp nhìn nhận Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới như một cơ hội , đặc biệt là trong bối cảnh quốc tế hiện nay khi mà nhu cầu an ninh lương thực ngày một gia tăng” - Bà Hằng khẳng định.

Bàn Chủ tọa chương trình: Ông Đinh Ngọc Minh – Phó Vụ trưởng Vụ phát triển nông nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư; TS Phạm Thị Thu Hằng – Tổng thư ký VCCI; TS. Nguyễn Minh Tiến – Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn; Ông Nguyễn Quang Tiến – Phó Trưởng Ban tuyên giáo Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương
Là người có tham luận đầu tiên tại Hội thảo, TS. Nguyễn Minh Tiến – Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phó Chánh Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới đã trình bày tổng quan về kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia và một số kết quả sau 3 năm triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới.

Nội dung của chương trình bao gồm: Quy hoạch nông thôn mới; Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập; Giảm nghèo và an sinh xã hội; Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn; Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn; Phát triển y tế, chăm sóc sức khoẻ cư dân nông thôn; Xây dựng đời sống văn hoá, thông tin và truyền thông; Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn; Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn.
TS Tiến đưa ra một số kết quả sau 3 năm thực hiện chương trình này. Cụ thể, bộ máy tổ chức được thành lập từ Ban chỉ đạo Trung ương (24 Bộ ngành, tổ chức chương trình) tới ban chỉ đạo cấp tỉnh và tới ban chỉ đạo cấp huyện; Đã ban hành các chính sách mới phục vụ chương trình mục tiêu quốc gia Nông thôn mới như QĐ 695/QĐ-TTg năm 2012 sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện Chương trình; QĐ 342/QĐ-TTg năm 2013 sửa đổi một số tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới như: tiêu chí 7 về chợ Nông thôn mới, tiêu chí số 10 về thu nhập, tiêu chí số 12 về cơ cấu lao động, tiêu chí số 14 về giáo dục và tiêu chí 15 về y tế; QĐ 498/QĐ-TTg năm 2013 bổ sung cơ chế đầu tư đặc thù cho Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới đối với những công trình nhỏ; QĐ 1620/QĐ-TTg năm 2011 về phong trào thi đua “Chung sức xây dựng Nông thôn mới”….
Về sản xuất, tập trung phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng thu nhập cho nông dân: Chương trình đã xây dựng được 7 ngàn mô hình, tập huấn cho 124 ngàn lượt cán bộ, vốn hỗ trợ sản xuất 6.400 tỷ đồng; Xuất hiện nhiều mô hình mới: “cánh đồng mẫu lớn”, dồn điền đổi thửa gắn với cơ giới hoá sản xuất, nông nghiệp công nghệ cao-nông nghiệp đô thị; TP.HCM đạt giá trị sản xuất bình quân 239 triệu đ/ha năm 2012 (tăng 72,5% so với năm 2009 khi bắt đầu Nông thôn mới), Hà Nội đạt 199 triệu đ/ha; …
Phát triển hạ tầng KT-XH đã được coi là khâu đột phá và có sự chuyển biến rõ rệt với tổng kinh phí đầu tư là 30.180 tỷ đồng cho hơn 9 ngàn hạng mục công trình. Trong đó đã nâng cấp, mở mới khoảng 38 ngàn km đường giao thông; 15 ngàn km kênh mương….Nhiều tỉnh có chính sách, giải pháp sáng tạo (hỗ trợ vật liệu xây dựng, giao cho cộng đồng tự triển khai): Tuyên Quang xây mới 1.074 km đường giao thông nông thôn (xã Mỹ Bằng, Yên Sơn làm mới 100 km đường giao thông nông thôn trong 02 năm, nhà nước chỉ hỗ trợ khoảng 40%), Nam Định làm mới hơn 2.034 km đường giao thông nông thôn các cấp…
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn những khó khăn và hạn chế nhất định như: Nhận thức của một bộ phận cán bộ và người dân về Nông thôn mới còn chưa đúng và chưa đầy đủ; Hệ thống cơ chế chính sách chưa thực sự đồng bộ, chậm sửa đổi, bổ sung như: Luật Đất đai, Luật Ngân sách, NĐ 61 về khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, Nghị định 42 về bảo vệ đất lúa; các văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành về các tiêu chí (cơ sở văn hoá, an ninh trật tự,…); Công tác điều phối Chương trình còn nhiều lúng túng, một số nơi phó mặc cho ngành nông nghiệp; Năng lực cán bộ cơ sở còn hạn chế, thiếu một số kỹ năng cơ bản để triển khai Chương trình hiệu quả; Huy động nguồn lực (nhất là nguồn ngân sách Trung ương) cho Chương trình chưa tương xứng với mục tiêu; chưa có cơ chế lồng ghép hiệu quả các nguồn vốn trên cùng địa bàn.

Từ những khó khăn trên, TS Tiến đưa ra một số giải pháp – nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới. Cụ thể: thứ nhất, bổ sung hoàn thiện một số chính sách, hướng dẫn và khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn (Thông tư hướng dẫn tiêu chí, Thông tư liên tịch sửa đổi bổ sung, Hướng dẫn quy trình xét công nhận xã đạt chuẩn…); Điều chỉnh cơ chế lồng ghép các nguồn vốn theo hướng phân cấp tối đa cho tỉnh; Khẩn trương ban hành Nghị định thay thế Nghị định 61 về khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp ngông thôn;….
Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác thi đua, tuyên truyền nhằm đưa cả hệ thống chính trị vào cuộc; Nâng cao chất lượng và thời lượng các chuyên mục về Nông thôn mới, ưu tiên tuyên truyền về cách làm hay, gương điển hình.
Thứ ba, đẩy mạnh công tác tập huấn đội ngũ cán bộ Nông thôn mới các cấp: Bổ sung, hoàn thiện khung Chương trình tập huấn cán bộ Nông thôn mới; ban hành bộ tài liệu chuẩn; Tăng cường đào tạo kỹ năng và năng lực triển khai của cán bộ cấp xã, thôn.
Thứ tư, chỉ đạo rà soát, nâng cao chất lượng công tác qui hoạch và lập đề án Nông thôn mới cấp xã: Quy hoạch sản xuất theo lợi thế, kết nối vùng, từng bước gắn với đầu tư hạ tầng, công nghiệp chế biến và gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp.
Thứ năm, tập trung đẩy mạnh chỉ đạo phát triển sản xuất. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành sổ tay hướng dẫn phát triển sản xuất; huy động toàn ngành trực tiếp chỉ đạo phát triển sản xuất cấp xã. Đào tạo nghề cho nông dân theo quy hoạch sản xuất, mỗi xã, thôn, bản có ít nhất 1 mô hình sản xuất hàng hóa tập trung.
Thứ sáu, tạo chuyển biến rõ rệt về hạ tầng cơ bản nông thôn. Lựa chọn, tập trung hoàn thiện một số loại hạ tầng thiết yếu ở nông thôn như giao thông, điện, thủy lợi, nước sinh hoạt, trường học, y tế….
Thứ bảy, tiếp tục phát triển giáo dục, y tế và xây dựng đời sống văn hoá nông thôn mới.
Bàn về phát huy vai trò của DN trong xây dựng nông thôn mới qua triển khai chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020, PGS.TS Nguyễn Tấn Hinh - Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, mục tiêu của chương trình nhằm thúc đẩy phát triển và ứng dụng có hiệu quả công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, đạt mức tăng trưởng hàng năm trên 3,5%; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia cả trước mắt và lâu dài.

PGS.TS Nguyễn Tấn Hinh - Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại diễn đàn
Ông Hinh cũng đưa ra một số kết quả bước đầu phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gồm: Đã thành lập được 02 Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là Khu nông nghiệp công nghệ cao Tp. Hồ Chí Minh, do UBND Tp. Hồ Chí Minh thành lập trên diện tích gần 90ha và bước đầu đã đi vào hoạt động có hiệu quả trong lĩnh vực sản xuất rau, hoa và cá cảnh ứng dụng công nghệ cao và Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Hậu Giang do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập trên diện tích 5.200 ha, trong đó khu vực trung tâm khoảng 415 ha.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang triển khai thực hiện lập quy hoạch tổng thể khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong năm 2013. Trong đó, dự kiến quy hoạch thành lập 12 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại các tỉnh, thành phố: Sơn La (200ha), Thái Nguyên (300ha), Hải Phòng (200ha), Nam Định (200ha), Nghệ An (200ha), Quảng Ngãi (190ha), Phú Yên (400ha), Ninh Thuận (150ha), Lâm Đồng (220ha), Bình Dương (412ha), Hậu Giang (415ha), Cần Thơ (200ha). Các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có chức năng thực hiện hoạt động ứng dụng thành tựu nghiên cứu và phát triển công nghệ cao vào lĩnh vực nông nghiệp.
Cho đến nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thẩm định và công nhận được 5 doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao: Công ty cổ phần Công nghệ sinh học Rừng hoa Đà Lạt (TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng); Công ty TNHH Agrivina (Dalat Hasfarm) (TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng); Công ty TNHH Đà Lạt GAP (Tp. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng); Công ty CP thực phẩm sữa TH (huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An) và Công ty TNHH thương mại dịch vụ Trường Hoàng (huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng).
Theo ông Hinh, hện nay, ở nước ta có nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động trong các lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đã hội đủ điều kiện nhưng chưa đăng ký công nhận là doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Ông Hinh khẳng định: “Doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn có vai trò rất lớn trong xây
dựng nông thôn mới. Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
đến năm 2020 là một cơ hội tốt để các doanh nghiệp tham gia vào Chương trình”.
Ứng dụng công nghệ cao - Con đường phát triển bền vững
Ông Ngô Tiến Dũng – Tổng thư ký Hiệp hội các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp đã trình bày tham luận “Ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp – Con đường phát triển bền vững”
Theo ông Dũng, trên thế giới, có nhiều nước đã ứng dụng công nghệ cao vào phát triển nông nghiệp và đã gặt hái được nhiều thành công. Điển hình như Isarel - một nước bán sa mạc, khí hậu khắc nghiệt, nhưng họ đã làm nên điều kỳ diệu về nền nông nghiệp xanh công nghệ cao trên hoang mạc.
Thực tiễn phát triển nông nghiệp ở Việt Nam cho thấy, với hơn 70% dân số gắn bó với nông nghiệp, nông nghiệp đóng góp 20% GDP nhưng nền nông nghiệp Việt Nam vẫn phát triển lạc hậu, manh mún, nhỏ lẻ, quy hoạch còn bất cập, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Khó khăn lớn nhất và cơ bản nhất của nông nghiệp nước ta là sản xuất phân tán, quy mô nhỏ, lại chia thành nhiều mảnh, khó tích tụ ruộng đất để sản xuất tập trung. Các lâm trường quốc doanh, các doanh nghiệp đầu tư cho nông nghiệp chủ yếu là do nông dân tự đứng ra làm chủ hoạt động không hiệu quả, nhỏ lẻ với quy mô “cò con”. Vốn ít, áp dụng công nghệ cũ, sử dụng trang thiết bị thủ công, công nghệ sau thu hoạch lạc hậu, tạm bợ, thiếu cơ hội và môi trường đầu tư kinh doanh, chính sách ưu đãi hầu như không có hoặc nếu có cũng khó triển khai áp dụng.
Trong nhiều năm, nhà nước liên tục kêu gọi
liên kết 4 nhà “nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp”. Tuy nhiên,
thực tế sản xuất và kinh doanh nông sản cho thấy, sự phối hợp này chưa tốt dẫn
đến tình trạng “được mùa mất giá” hay hiện tượng thương lái ép giá nông dân,
….. Phát triển nông nghiệp còn thiếu quy hoạch, nôn nóng chạy theo các lợi ích
kinh tế, tự phát chuyển đổi mục đích sử dụng đất, gây lãng phí đất và nhiều tác
động xấu đến môi trường. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao am hiểu về
khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp còn thiếu và yếu, do đó nếu đầu tư công nghệ
cao vào nông nghiệp sẽ rất khó khăn. Ở Việt Nam, các doanh nghiệp vẫn cho rằng
việc đầu tư vào nông nghiệp có xác suất rủi ro khá cao do phụ thuộc quá nhiều
vào thiên nhiên, lượng vốn đầu tư lớn và thu hồi vốn chậm. Vì lý do đó nên họ
không muốn mạo hiểm đầu tư vào lĩnh vực này mà chủ yếu tham gia vào các kênh đầu
tư mang lại lợi nhuận lớn và thu hồi vốn nhanh (chứng khoán, bất động sản, dịch
vụ…). Do vậy, cách duy nhất là đưa công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp thì mới
có thể thay đổi bức tranh nông nghiệp lạc hậu và lối tư duy cũ trên.

Ông Dũng cũng đã nêu lên hai ví dụ điển hình thành công về ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp tại Việt Nam, đó là tập đoàn TH và Công ty CP Công nghệ sinh học Rừng Hoa Đà Lạt.
TH đã xây dựng hệ thống làm việc chuyên nghiệp, được quản lý trực tiếp bởi hai công ty đa quốc gia là Công ty SAE-AFIKIM của Israel về quản trị đàn bò và Công ty Totally Vets của New Zealand quản trị thú y. Là dự án đầu tư lớn (1,2 tỷ USD) chia làm 2 giai đoạn, trong đó giai đoạn I (350 triệu USD) sẽ hoàn hoàn thành vào cuối năm 2013. Hiện tại tập đoàn TH đã hoàn thành giai đoạn 1 nhà máy chế biến sữa hiện đại bậc nhất Đông Nam Á, công suất 500 triệu lít/năm. Hiện nay, sau gần 2 năm hoạt động, tập đoàn TH đã là nhà cung cấp sữa tươi “sạch” hàng đầu Việt Nam. Dự kiến năm 2015 sẽ đáp ứng 50% nhu cầu sữa tươi sạch trên thị trường nhờ tự chủ về nguồn nguyên liệu.
Việc Tập đoàn TH ứng dụng công nhệ cao vào sản xuất nâng cao hiệu suất canh tác, biến 1ha đất trước đó chỉ cho thu hoạch khoảng 70 triệu đồng/năm, nhờ trồng cỏ, trồng cao lương... theo phương thức áp dụng công nghệ cao đã cho thu hoạch từ 500 triệu - 1,5 tỷ đồng/năm.
Công ty CP Công nghệ sinh học Rừng Hoa Đà Lạt với tuổi đời 10 năm đã không ngừng tiếp thu và ứng dụng khoa học công nghệ nhằm góp phần nâng giá trị cho sản phẩm hoa Đà Lạt. Phương pháp nhân giống Invitro đã giúp cho Công ty đạt năng suất 300.000 cây giống/năm (năm 2003) lên 7 triệu cây con/năm (năm 2007) và 24 triệu cây con/năm (từ năm 2010 đến nay). Đây cũng là một bước tiến trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, cung cấp cho thị trường nội địa sản phẩm hoa lily cắt cành, hoa salem, đồng tiền… mang lại giá trị kinh tế cao. Công ty từng bước tiếp cận và xuất khẩu giống cây con sang các thị trường Hà Lan, Đan Mạch, Bỉ, Trung Quốc, Nhật Bản.
Rút ra bài học về các dự án ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, ông Dũng đưa ra bốn điều kiện tiên quyết để làm nên cuộc cách mạng ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp:
Thứ nhất, vai trò của doanh nghiệp: yếu tố tiên quyết đầu tiên để đưa công nghệ cao vào nông nghiệp là phải có thế hệ doanh nhân yêu nước, có đủ Tâm - Trí - Lực để hoạch định cho mình một con đường đi rõ ràng, riêng biệt, biết đặt lợi ích của mình trong lợi ích quốc gia, không được tối ưu hóa lợi nhuận mà phải hợp lý hóa lợi ích.
Thứ hai, phải có nguồn lực (đất đai): đủ để đưa công nghệ cao vào nông nghiệp. Điều không thể thiếu là sự gắn kết, vào cuộc mạnh mẽ của chính quyền nhân dân và sự nhận thức sâu rộng của chính quyền địa phương.
Thứ ba, lựa chọn công nghệ đúng: Sử dụng công nghệ đầu cuối của thế giới, trí tuệ mới của thế giới đã được ứng dụng trong thực tiễn vào Việt Nam.
Thứ tư, sự ủng hộ của nhân dân: nếu có sự ủng hộ của nhân dân, cùng đồng sức đồng lòng cùng chính quyền và doanh nghiệp thì những dự án mang tính đột phá mới thành công.
Từ đó, ông đưa ra đề xuất – kiến nghị cụ thể: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần đề xuất với Chính phủ ban hành những chính sách khác biệt trong vòng 3-5 năm để khích lệ doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư vào lĩnh vực này.
Phải có chính quyền mạnh, nhận thức đầy đủ về vấn đề công nghệ cao trong nông nghiệp. Do vậy, cần có những buổi tập huấn, tham vấn, lộ trình chiến lược, dưới sự hỗ trợ từ Chính phủ cũng như các bộ chủ quản. Chính quyền phải xem đưa công nghệ cao vào nông nghiệp là nền kinh tế tri thức, đơn giản hóa các thủ tục cấp chứng chỉ cho các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp và có các chính sách ưu đãi về thuế quan, các thủ tục pháp lý phù hợp hơn với thực tế.
Cần sự kết hợp giữa các bộ ban ngành, nhất là ngành chủ quản như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Ban hành quy chuẩn kỹ thuật về công nghệ cao trong nông nghiệp đối với sản phẩm hàng hóa.
Áp dụng nguyên tắc quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm theo chuỗi đối với sản phẩm sản xuất theo quy trình công nghệ cao: Tất cả nhãn mác sản phẩm phải ghi đầy đủ các yếu tố như: xuất xứ đầu vào của nguyên liệu để tránh tranh cãi....
Ông Ngô Tiến Dũng kết luận: ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp mang một sứ mệnh lịch sử quan trọng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, “Trí tuệ Việt + Tài nguyên thiên nhiên Việt”, cộng với “Công nghệ đầu - cuối” của thế giới, đồng hành cùng các doanh nghiệp có đủ Tâm – Trí – Lực, sẽ tạo ra một cuộc cách mạng lớn trong nông nghiệp, góp phần không nhỏ vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Bàn về liên kết kinh tế trong nông nghiệp, ông Lê Đức Thịnh - Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn cho biết, mục tiêu là tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất, khai thác tốt tiềm năng của từng đơn vị tham gia liên kết hoặc để cùng nhau tạo thị trường chung, bảo vệ lợi ích cho nhau.
Về mặt hình thức, liên kết kinh tế là sự hợp tác và phối hợp giữa các đơn vị kinh tế. Có nhiều dạng liên kết: Liên kết ngang, liên kết dọc, liên kết trong cộng đồng nông thôn.
Hạn chế của các chính sách thúc đẩy liên kết hiện nay: Tính phổ quát lớn nhưng chưa cụ thể, nhất là cơ chế lợi ích gắn kết các đối tác tham gia; thiếu chế tài phù hợp để xử lý tranh chấp; đánh đồng vai trò của Nhà nước như một tác nhân liên kết; việc tổ chức chỉ đạo thực hiện ở nhiều nơi chưa được quan tâm đúng mức, thiếu sâu sát; thiếu nguồn lực để thực hiện các chính sách hỗ trợ đã ban hành.
Ông Thịnh cũng cho biết, các chính sách tới đây nhằm thúc đẩy liên kết gồm: Đa dạng hoá các loại hình liên kết tuỳ theo từng trường hợp cụ thể; khuyến khích phát triển chế biến và bao tiêu sản phẩm nông sản cho nông dân, cụ thể đến mức tối đa có thể.
Về chính sách, yêu cầu hỗ trợ để tạo ra vùng nguyên liệu, thúc đẩy công nghiệp chế biến nhằm tăng giá trị; có giải pháp chính sách hỗ trợ xử lí môi trường và phân công rõ nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương.
Ông Thịnh cũng chia sẻ dự thảo Chính sách hỗ trợ xây dựng “Cánh đồng mẫu lớn” đang trình Thủ tướng tập trung vào những nội dung chính như: Miễn 100% tiền sử dụng đất khi chuyển đất nông nghiệp sang đất xây dựng cơ sở hạ tầng dịch vụ, nhà máy chế biến, kho chứa và xây dựng nhà ở cho công nhân phục vụ cho mô hình Cánh đồng mẫu lớn. Hỗ trợ kinh phí tổ chức thực hiện các dự án dồn điền đổi thửa và chỉnh trang đồng ruộng, hoàn thiện hệ thống giao thông, thuỷ lợi nội đồng, hệ thống điện phục vụ các trạm bơm trong dự án Cánh đồng mẫu lớn. Hỗ trợ 50% kinh phí thực tế trong năm đầu và 30% năm thứ 2 đối với dịch vụ bảo vệ thực vật cho người sản xuất. Hỗ trợ 100% kinh phí lưu kho cho nông dân tại doanh nghiệp, thời hạn tối đa là 3 tháng. Hỗ trợ đào tạo và thành lập tổ chức đại diện của nông dân. Và điều đặc biệt là được ưu tiên tham gia thực hiện các hợp đồng xuất khẩu nông sản hoặc chương trình tạm trữ nông sản của Chính Phủ.
Mô hình liên kết 4 nhà
Là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, ông Đàm Quang Thắng – TGĐ Công ty TNHH Agricare Việt Nam đã chia sẻ về kinh nghiệm thực tế triển khai mô hình liên kết 4 nhà trong phát triển nông nghiệp, nông thôn tại công ty ông.

Công ty đã áp dụng triển khai liên kết 4 nhà trong phát triển nông nghiệp, nông thôn mà cụ thể là giữa Nhà Khoa học – Nhà quản lý – Nhà doanh nghiệp – Nhà nông.
Ông Thắng chia sẻ, những thuận lợi trong việc triển khai liên kết 4 nhà đó là: tạo được vùng nguyên liệu ổn định cho hoạt động của công ty; đáp ứng được những chỉ tiêu về an toàn, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật; Sản xuất đúng theo quy trình, sử dụng đúng, hiệu quả, hợp lý các vật tư nông nghiệp; Nâng cao thu nhập, tạo đầu ra ổn định cho nông dân.
Tuy nhiên trong việc triển khai cũng có những khó khăn nhất định, đặc biệt là khó khăn trong giai đoạn đầu khi nông dân triển khai làm theo quy trình, đặc biệt áp dụng “4 đúng” trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; Khó mua đủ lượng các nông sản cao cấp nếu thương lái trả giá cao hơn.
Ngoài chương trình liên kết 4 nhà, hiện nay công ty còn áp dụng triển khai mạng giao dịch “nongnghieponline”. Theo ông Thắng, lợi ích của việc áp dụng chương trình này đó là rút ngắn khoảng cách địa lý, người mua và người bán bỏ qua những khâu trung gian truyền thống, trở thành phương tiện hữu hiệu để nông nghiệp, nông sản Việt Nam tiếp cận với các khách trong nước và toàn thế giới; rút ngắn thời gian giao dịch; giảm chi phí trong khi hiệu quả tăng nhiều lần.
Để tạo điều kiện tốt hơn cho các DN hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, ông Thắng đưa ra kiến nghị và đề xuất với các cơ quan Nhà nước, cơ quan hữu quan: Bỏ bớt rào cản về pháp lệnh, quy định, thông tư hướng dẫn để tạo sân chơi lành mạnh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển; Có biện pháp hỗ trợ kịp thời, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận được với các gói hỗ trợ của nhà nước như hỗ trợ vốn, hỗ trợ lãi suất, thời gian…
Đề xuất các hiệp hội, làng nghề, các doanh nghiệp, chủ sản xuất liên kết, phối hợp
để đưa thương hiệu các sản phẩm nông nghiệp, nông sản ra thị trường một cách tốt
nhất, bền vững nhất; Cạnh tranh lành mạnh, cùng phát triển đảm bảo thương hiệu,
chất lượng, định vị của thương hiệu Nông sản Việt….
2 hình thức PPP trong xây dựng Nông thôn mới
Tham luận với chủ đề “PPP - Hợp tác công tư trong phát triển nông nghiệp, nông thôn”, bà Lê Phi Vân cho biết, PPP có thể hiểu là quan hệ đối tác giữa nhà nước và tư nhân để cùng xây dựng cơ sở hạ tầng và cung cấp các dịch vụ công cộng.
Mục tiêu của PPP là hướng đến lợi ích của các bên liên quan, góp phần làm tăng lợi ích chung toàn xã hội. Đối với khu vực công, PPP góp phần tăng nguồn vốn đầu tư, hiệu quả quản lý và xã hội hóa việc cung cấp dịch vụ nhằm hướng đến các mục tiêu: phát triển kinh tế, công bằng xã hội, môi trường bền vững. Đối với khu vực tư, PPP đem lại cơ hội kinh doanh trong lĩnh vực mà trước kia trong nhiều trường hợp thường bị loại trừ, tiềm năng đầu tư tốt hơn, tăng cường khả năng sản xuất, khả năng cạnh tranh, giảm chi phí, tăng cường đa dạng và chất lượng sản phẩm, củng cố vai trò lãnh đạo thị trường.
Đặc trưng của PPP là có sự tham gia đồng thời của cả hai bên Công - Tư. Trong đó, khu vực công có thể là các bộ, cục, chính quyền địa phương hay doanh nghiệp nhà nước. Khu vực tư gồm các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài, NGOs, CBOs. Công và Tư có mối quan hệ đối tác ngang hàng nhau và được thông qua một cơ chế hợp đồng cụ thể: ràng buộc về sự đóng góp, chia sẻ tài nguyên, rủi ro, trách nhiệm được thỏa thuận và ký kết.
Bà Vân cho biết, thực trạng PPP ở VN: Khoảng 100 dự án BOT với tổng vốn cam kết 7 tỷ USD, chủ yếu trong các lĩnh vực hạ tầng cơ sở (cầu Cỏ may, cầu Phú Mỹ), điện (Phú Mỹ 2.2, Phú Mỹ 3, Mông Dương 2, Hải Dương, Vĩnh Tân 1). Hợp đồng BTO, BOT, BT chỉ chiếm 0,09% (14 dự án) trong tổng số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: Đô thị mới Phú Mỹ Hưng…, trong nông nghiệp mới đang thí điểm các dự án chè, cà phê, ca cao, cá, ngô, đậu tương, khoai tây…
Khả năng áp dụng trong Nông thôn mới chủ yếu ở các lĩnh vực như: điện, đường, trường, trạm; cấp nước sinh hoạt; thu gom, xử lý chất thải, nước thải; chợ, khu trưng bày triển lãm sản phẩm…
Các hình thức PPP trong xây dựng Nông thôn mới. Hình thức 1: Hợp đồng quản lý duy tu và vận hành. Theo đó, nhà nước có thể bỏ tiền xây dựng công trình và giao cho khu vực tư nhân quản lý việc duy tu và vận hành trên cơ sở đấu thầu. Áp dụng trong các công trình hạ tầng cơ sở, thu gom nước thải, rác thải và xử lý nước thải, các chợ hay khu trưng bày giới thiệu sản phẩm…Hình thức 2: Hợp đồng quản lý. Nhà nước có thể hợp đồng với các tổ chức phi chính phủ hay tổ chức dựa vào cộng đồng để quản lý các chương trình, dự án phát triển Nông thôn mới. Áp dụng trong các dự án chuyển giao công nghệ.
Cũng theo bà Vân, giải pháp thu hút PPP trong thời gian tới gồm: Có các chính sách miễn thuế kết hợp lồng ghép các dự án, chương trình phát triển, hoặc vay vốn với nhiều ưu đãi. Cần đào tạo cán bộ nguồn có chất lượng.
Đa dạng hóa các nguồn vốn cho xây dựng nông thôn mới
Chia sẻ tại Diễn đàn, TS Nguyễn Minh Phong đề cập tới vấn đề đa dạng hóa các nguồn vốn cho xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là ở Hà Nội. Theo ông Phong, nguồn vốn cho chương trình xây dựng nông thôn mới có sự biến động vô cùng lớn và thay đổi khó lường so với mục tiêu đề ra.
Sau 5 năm triển khai thực hiện NQTW 7 (khóa X), tổng kinh phí đã bố trí từ ngân sách cấp Thành phố và ngân sách các huyện, thị xã trong dự toán hàng năm (2010 đến 2013) khoảng 2.154 tỷ đồng, trong đó: Ngân sách cấp Thành phố thì tổng kinh phí đã bố trí thực hiện 3 chương trình, 9 đề án và 9 dự án, nhiệm vụ khác với số triền chi ngân sách khoảng 1.670 tỷ đồng (Năm 2010 là 47 tỷ; năm 2011 là 401 tỷ; năm 2012 là 462 tỷ; năm 2013 khoảng 760 tỷ đồng).
Với ngân sách 18 huyện, thị xã Sơn Tây: Tổng chi sự nghiệp kinh tế ngân sách huyện, thị xã để hỗ trợ thực hiện các dự án, chương trình thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn từ năm 2011 đến 2013 khoảng 485 tỷ đồng (năm 2011 là 139.360 triệu; năm 2012 là 182.363 triệu; hỗ trợ đầu năm 2013 là 163.292 triệu đồng). Kinh phí giải ngân thanh toán khoảng 450.000 triệu đồng, đạt 92,7% so kế hoạch vốn giao.
Trong khuôn khổ thực hiện Chương trình 02-CTr/TU, tổng kinh phí đã hỗ trợ thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới từ ngân sách cấp Thành phố cho các huyện, thị xã đến nay khoảng 1.925,8 tỷ đồng, trong đó:
Chi từ nguồn vốn sự nghiệp kinh tế có tổng chi 298,3 tỷ đồng, gồm hỗ trợ lập đề án của 382 xã là 57,3 tỷ; lập quy hoạch xã nông thôn mới cho 382 xã còn lại 155 tỷ; kinh phí hoạt động của Ban chỉ đạo huyện và xã cân đối trong dự toán giao 3 năm (2011-2013) là 86 tỷ đồng.
Chi từ nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản bổ sung có mục tiêu cho các huyện, thị xã khoảng 1.627,4 tỷ đồng.
Kinh phí đã giải ngân, thanh toán đến nay khoảng trên 1.700 tỷ/1.925,8 tỷ đồng, đạt 88% so kế hoạch vốn Thành phố đã bố trí.
Qua 3 năm thực hiện Chương trình, các huyện, thị xã và ngân sách xã đã chủ động cân đối bố trí vốn đầu tư cho các dự án thuộc đề án xây dựng nông thôn mới của xã, kết quả đến nay tổng số vốn đã bố trí khoảng 5.407 tỷ đồng, trong đó: Ngân sách huyện 4.892,6 tỷ đồng; ngân sách xã 514,5 tỷ đồng. Kinh phí đã giải ngân, thanh toán khoảng 4.700 tỷ/5.407 tỷ đồng, đạt 87% so kế hoạch vốn đã bố trí.
Tổng kinh phí các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân đã ủng hộ là 936.354 triệu đồng, trong đó: Vốn đóng góp của nhân dân bằng ngày công lao động trực tiếp, hiến đất làm đường giao thông quy giá trị khoảng 340.761 triệu đồng. Vốn doanh nghiệp đóng góp bằng tiền mặt, hiện vật và các công trình phúc lợi công cộng là 160.048 triệu đồng. Vốn thực hiện xã hội hóa qua các chương trình, dự án là 435.545 triệu đồng.
Ông Phong cho rằng, cần đa dạng hoá nguồn vốn cho xây dựng nông thôn phù hợp với điều kiện thực tế ở từng địa phương (huyện, xã), không để phát sinh nợ xây dựng cơ bản, nợ xấu. Ngoài ra, đối với các địa phương, khi đã đạt được thì cần duy trì thường xuyên các tiêu chí Nông thôn mới phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh ở địa phuơng, không đánh trống bỏ dùi hoặc tự thoả mãn….Cần tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hộ nông dân tiếp cận vay vốn tín dụng đầu tư cho phát triển sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế vùng nông thôn;
Thành phố cần điều chỉnh tổng mức đầu tư đề án xây dựng nông thôn mới từ 32.000 tỷ lên khoảng 100.000 tỷ; đồng thời điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn thực hiện đề án, trong đó: Tổng mức vốn hỗ trợ của NSNN từ 56% lên khoảng 60% tổng mức đầu tư của đề án được duyệt; tăng cuờng chỉ đạo giành nguồn thu tiền sử dụng đất, tăng thu, thưởng thu vượt dự toán và kết dư ngân sách hàng năm của ngân sách cấp Thành phố và huyện, thị xã tập; trung ưu tiên hỗ trợ xã thực hiện chương trình xây dựng Nông thôn mới; kiểm tra tiến độ và kịp thời tháo gỡ vướng mắc, khó khăn cho huyện và xã, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ huyện, xã và thôn trong công tác quản lý, tổ chức thực hiện đề án xây dựng Nông thôn mới …
Ngoài ra, cần tổ chức tôn vinh các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân ủng hộ đóng góp vốn thực hiện đề án và có cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân bỏ vốn đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn....
Ông Nguyễn Quang Tiến – Phó Trưởng Ban tuyên giáo Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương cho rằng, vai trò của Tập đoàn, Tổng Công ty trong việc hỗ trợ các hộ nghèo đã đạt được những thành công nhất định. Trong thời gian vừa qua khối DN TW đã nhận giúp đỡ 54/64 huyện nghèo, đầu tư cơ sở hạ tầng và tạo công ăn việc làm cho nhân dân trên địa bàn đã được Chính phủ đánh giá cao.

Ông Tiến nhấn mạnh: “Chúng ta đang tính bài toán cho các doanh nghiệp trong việc đầu tư vào nông thôn. Tuy nhiên, ngoài các chính sách của nhà nước về nông nghịêp, nông thôn là cơ chế chung còn có cơ chế riêng được triển khai tại từng địa phương. Các địa phương có cơ chế mở và phối hợp với DN tốt sẽ thu được hiệu quả cao. Địa phương được doanh nghiệp hỗ trợ nhưng không hợp tác với DN thì hiệu quả thu được sẽ thấp. Vấn đề là hai bên cùng bắt tay và hợp tác tốt thì vai trò mới phát huy tác dụng”.
Chia sẻ tại Diễn đàn, TS Ngô Kiều Oanh – Giám đốc công ty Tư vấn đầu tư và chuyển giao khoa học công nghệ (ATC Việt Nam) bày tỏ với các DN rằng nông nghiệp, nông thôn và nông dân là một hệ thống đa dạng, phức tạp, rộng lớn. Trước khi bước vào hoạt động cần chuẩn bị về tư tưởng đây sẽ là con đường đi lâu dài và có thể cần đi từng chặng một và đều phải có đánh giá rút kinh nghiệm.

Vì vậy, bà Oanh đề nghị: Cần có một hệ thống thông tin điện tử hay còn gọi là cơ sở dữ liệu điện tử Quốc gia về nông nghiệp, nông thôn và nông dân với các thông tin thật sự chất lượng để giúp các doanh nghiệp định hướng chính xác chiến lược đầu tư cũng như tạo tiền đề để hấp dẫn và thu hút đầu tư công tư PPP. Nên cho DN tham gia vào việc đánh giá thẩm định tính kinh tế, tính thực tiễn của các đề tài khi xây dựng và qua việc ứng dụng trên thực tế.
Việc xây dựng các chính sách cần mang hơi thở của cuộc sống nên cần đúc kết cả phần lý luận và phần thực tiễn qua mô hình điểm, làm mô hình trình diễn đầu bờ, được thực hiện bởi các DN làm đầu tàu sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp gắn kết được lợi ích của nông dân và lợi ích của địa phương nơi DN hoạt động…
Diendandoanhnghiep
