
TS. Nguyễn Hồng Sơn - Đại biểu Quốc hội
Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Hàng tiêu dùng Việt Nam
phát biểu tại phiên thảo luận
KÍNH THƯA QUỐC HỘI
Tôi xin phép đóng góp ý kiến vào bản báo cáo của Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng trình bầy trước Quốc Hội về tình hình kinh tế, xã hội năm 2012 và nhiệm vụ năm 2013
Có thể nói trong 2 năm vữa qua, những diễn biến suy thoái của nền kinh tế thế giới đã tác động mạnh mẽ và sâu sắc vào kinh tế vĩ mô và doanh nghiệp Việt Nam. Doanh nghiệp Việt Nam đang ở trong tình trạng khó khăn hơn bao giờ hết. Rất nhiều Doanh nghiệp đã phải phá sản, giải thể, ngừng sản xuất kéo theo hệ luỵ đó kinh tế nhà nước chậm phát triển, giảm thu Ngân sách, lao động mất việc làm, trật tự xã hội diễn biến phức tạp.
Trước tình hình đó Chính phủ đã nỗ lực, chủ động, linh hoạt trong công tác điều hành, đồng thời cũng đã trình Quốc hội nhiều giải pháp hỗ trợ thị trường, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Các Bộ ngành và địa phương cũng đã có nhiều giải pháp chủ động tháo gỡ khó khăn cho Doanh nghiệp, như : Bộ Công thương đã tổ chức cho các doanh nghiệp ký kết thoả thuận hợp tác, cam kết tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của nhau vừa thực hiện chủ trương người VN dùng hàng VN vừa giảm tỷ lệ tồn kho cho các DN. Ngân hàng Nhà nước cũng có thái độ kiên quyết trong việc điều hành chính sách lãi xuất tín dụng, bước đầu đã giảm phần nào được lãi xuất tiền vay, giúp bớt khó khăn cho các doanh nghiệp, nhất là các DN đang có khế ước tiền vay với mức lãi xuất cao. Bộ Xây dựng đã chủ động xây dựng chính sách và các giải pháp nhằm thúc đẩy thị trường bất động sản, đồng thời Bộ xây dựng và bộ GTVT cũng đã ký thoả thuận đẩy mạnh công tác đầu tư xây dựng hạ tầng và xây dựng các tuyến đường giao thông bằng bê tông xi măng để hỗ trợ cho việc tiêu thụ tồn kho xi măng. Một số địa phương cũng đã hỗ trợ các DN bằng cách cho phép nộp thuế bằng vật tư, nguyên liệu như gạch và vật tư XDCB để cấp cho các dự án xây dựng nông thôn mới bằng nguồn vốn Ngân sách.
Tuy nhiên, dường như những nỗ lực của Chính Phủ và các ngành các cấp vẫn chưa đem lại kết quả như mong muốn, vẫn còn trên 40 ngàn Doanh nghiệp phải phá sản, ngừng sản xuất trong 9 tháng đầu năm 2012 kéo theo hàng triệu người mất việc làm. Lượng hàng tồn kho tuy giảm nhưng vẫn ở mức cao, lãi xuất tuy giảm nhưng vãn còn cao không đảm bảo hiệu quả khi đưa dòng tiền này tham gia vào hoạt động SXKD và dù lãi suất còn cao như vậy nhưng DN vẫn còn khó tiếp cận vì thủ tục và chính sách quản lý điều hành tín dụng còn nhiều bất cập. Tình hình nợ xấu rất cao và chưa có giải pháp xử lý, trong đó có phần do lỗi của Nhà nước trong việc giải ngân cho các dự án đầu tư xây dựng bằng nguồn NSNN.
Bên cạnh đó, những chính sách hỗ trợ thị trường, tháo gỡ khó khăn cho Doanh nghiệp mà chính phủ và Quốc hội đã ban hành nhưng doanh nghiệp khó được tiếp cận và hưởng thụ. Về việc giảm thuế thu nhập cho nhóm DN vừa và nhỏ thì nhìn chung nhóm DN này lại đang bị lỗ nên không có cơ hội được miễn giảm. Qua đi khảo sát tại các DN thì nhiều DN đủ các điều kiện để hưởng hỗ trợ theo nghị quyết của Quốc hội nhưng vì có trên 300 lao động, thậm chí chỉ vượt có một vài chục lao động thì lại bị loại ra khỏi danh sách được hỗ trợ, thực ra những DN này cũng có giải pháp là giảm ngay số lượng LĐ xuống dưới 300 người để được hưởng sự hỗ trợ của nhà nước, nhưng rất may những DN đó đã không chọn giải pháp này.
Việc hỗ trợ giảm 50% tiền thuê đất theo nghị quyết thì các DN rất khó khăn để được hưởng sự hỗ trợ này vì thủ tục đòi hỏi phức tạp. Với các khu đất đang làm sổ đỏ, chờ làm sổ đỏ, mặc dù hàng năm vẫn phải nộp đầy đủ tiền thuê đất nhưng cũng không đủ điều kiện được giảm tiền thuê đất do chưa có sổ đỏ. Rồi việc tính giá, điều chỉnh giá thuê đất cho sát giá thị trường của nhiều địa phương dẫn đến làm tăng quá cao giá thuê đất hoặc kéo dài thủ tục cũng làm cho DN không đủ thời gian để DN làm thủ tục để được hưởng thụ sự hỗ trợ theo quy định. Trong trường hợp này thì DN đang gặp khó khăn có nguy cơ bị phá sản không những không được giảm tiền thuê đất mà lại bị tăng tiền thuê đất do việc tính lại giá thuê đất hàng năm cho sát giá thị trường của một số địa phương, đây là một việc làm phi lý, đi ngược lại nghị quyết của Quốc hội và điều hành của Chính Phủ.
Về việc nợ xấu quá lớn dẫn đến kiệt quệ, mất khả năng thanh toán và khả năng duy trì SXKD của nhiều DN đã ảnh hưởng mang tính dây chuyền từ doanh nghiệp này đến nhiều doanh nghiệp khác, từ vùng này đến nhiều vùng khác trong đó có nguyên nhân khá lớn của Nhà nước trong việc nợ đọng vốn XDCB từ Ngân sách nhà nước. Nhiều công trình sử dụng vốn NSNN của các Bộ ngành và nhiều địa phương mặc dù chưa được bố trí đủ vốn, thậm chí chưa được bố trí vốn nhưng các Chủ đầu tư vẫn cho triển khai và yêu cầu các Nhà thầu khẩn trương xây dựng dẫn đến từ một nhà thầu chính sẽ kéo theo hàng chục các DN khác là các cung cấp vật tư, nguyên liệu, Nhà thầu phụ cùng chung số phận bị tồn đọng vốn tại những công trình này, trong khi đó tiền nợ Ngân hàng thì ngày càng tăng lên do lãi xuất gộp lại. Theo thống kê hiện nay thì tổng số nguồn vốn Ngân sách mà nhà nước còn nợ các doanh nghiệp là khoảng 97.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 50% tổng số nợ xấu của toàn bộ nền kinh tế.
Để tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ cho DN những tháng cuối năm 2012 và năm 2013 tôi đề nghị một số giải pháp sau đây:
1/ Thứ nhất là giải quyết công nợ và nợ xấu : Tôi hoàn toàn chia sẻ với Thống đốc ngân hàng nhà nước, vì chỉ riêng ngành ngân hàng thì không thể giải quyết dứt điểm được về nợ xấu. Chính phủ Cần thành lập một ban chỉ đạo hoặc một Ủy ban để giải quyết nợ xấu, bên cạnh các giải pháp xử lý mang tính triệt để, đồng bộ và lâu dài thì trước mắt chính phủ cần yêu cầu các Bộ ngành, chính quyền các địa phương rà soát tổng hợp kết hợp với kê khai của các DN để xác định đầy đủ giá trị mà vốn NSNN đang nợ DN trong XDCB và mua sắm công để ngay lập tức giải ngân cứu giúp DN, nếu chưa bố trí ngay được nguồn thì có cơ chế chuyển nợ Ngân hàng từ DN sang Nhà nước.
2/ Thứ hai là đề nghị Chính phủ có ngay văn bản hướng dẫn các địa phương thống nhất trên toàn Quốc thực hiện việc hỗ trợ tính giá và đơn giản thủ tục miễn tiền thuê đất cho các DN, theo hướng:
+ Cho phép các DN Chủ động lựa chọn việc trả tiền thuê đất một lần hay hàng năm, vì trong lúc khó khăn, việc trả tiền thuê đất một lần cho suốt mấy chục năm thuê đất sẽ làm cho DN gặp nhiều khó khăn, thậm chí có thể phải phá sản.
+ Giá tiền thuê đất đối với các DN thuê đất phục vụ SXKD trong lúc chờ luật đất đai sửa đổi được thông qua thì các tỉnh áp dụng lấy giá đất mà HĐND phê chuẩn áp dụng từ ngày 01/01 của năm 2012 và 2013 để tính giá thuê đất, mà không thực hiện việc xác định lại giá đất sát với thị trường nữa, điều đó vừa làm khó khăn cho DN vừa làm khó khăn cho các cơ quan quản lý nhà nước liên ngành khi phải tổ chức các hội nghị xã định giá thị trường mà thiếu cơ sở để xã định, điều đó sẽ kéo dài gây thiệt hại cho DN. Giá xác định lại giá thuê đất hàng năm thường là năm sau lại tăng giá tiền thuê đất lên rất nhiều so với năm trước sẽ càng làm cho doanh nghiệp thêm khó khăn.
+ Bỏ các hồ sơ thủ tục để xét miễn giảm tiền thuê đất nhất là không cần có sổ đỏ mà chỉ cần các doanh nghiệp này đang trả tiền thuê đất hàng năm là được miễn giảm.
3/ Thứ ba là Chính phủ Cần có các giải pháp Cụ thể, đồng bộ để thúc đẩy sức mua, kích thích tiêu dùng của thị trường mới giúp cho các DN tiêu thụ hàng hoá, sản phẩm và hàng tồn kho. Một trong những giải pháp này tôi đề nghị Chính phủ đề nghị Quốc hội cho giảm thuế VAT xuống còn 05%. Nếu không giảm thuế bằng nghị quyết QH thì CP bố trí quỹ hỗ trợ thị trường, kích thích tiêu dùng bằng cách hỗ trợ trực tiếp cho người mua bằng 05% giá trị hàng hoá trước thuế và được trừ ngay vào hoá đơn thanh toán, sau đó DN bán hàng được kê khai khấu trừ thông qua việc nộp thuế VAT. Phương án này nếu tính toán kỹ thì không những không giảm nguồn thu cho Ngân sách (do giảm thuế ) mà sẽ tăng thêm nguồn thu cho Ngân sách vì sẽ làm tăng số lượng và giá trị hàng hoá lưu thông lên nhiều lần.
Trên đây là một số ý kiến đóng góp ý kiến của tôi, xin cám ơn Quốc hội!
