Đó là một trong những thông tin được công bố sáng nay (23/2) tại Lễ công bố Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2011 và Khảo sát Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (PCI – FDI) 2011 do VCCI và Dự án Sáng kiến Cạnh tranh Việt Nam của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID/VNCI) đồng tổ chức.
Lào Cai và Bắc Ninh đứng đầu bảng
Khác biệt lớn nhất giữa chỉ số PCI 2011 so với các năm trước là sự thăng hạng và tụt hạng giữa các tỉnh trong bảng xếp hạng. Năm nay Bình Dương và Đà Nẵng đều không nằm ở vị trí cao nhất như các năm trước, thay vào đó Lào Cai và Bắc Ninh.
Theo nhóm nghiên cứu, sự gia tăng thứ hạng của hai địa phương này không nằm ngoài dự kiến, vì cả hai đều chưa bao giờ xếp dưới vị trí 20 và đã dành nhiều công sức trong việc cải thiện công tác điều hành, nhờ đó điểm số PCI của họ tăng đều đặn qua các năm.

Cũng theo nhóm nghiên cứu, ngoài sự thay đổi theo chiều hướng tích cực thì PCI 2011 cũng có những thay đổi lớn theo hướng tiêu cực. Hai địa phương vốn thường nằm trong tốp 10 vị trí cao nhất là Vĩnh Long và Bình Định lại sụt hạng trong năm 2011. Cả hai tỉnh tiếp tục xu hướng trượt dốc đã có từ năm 2010.
Nhóm
nghiên cứu PCI cho biết thêm, điểm PCI 2011 có trọng số của tỉnh trung
vị là 59,15, tăng gần 1 điểm so với năm 2009 và 2010. Bên cạnh đó, là sự
thu hẹp khoảng cách điểm số PCI giữa các tỉnh khi các tỉnh có xếp hạng
thấp hơn đã có bước nhảy vọt trong cải thiện chất lượng điều hành. Chẳng
hạn, năm 2009, Cao Bằng là tỉnh có điểm số thấp nhất với 45,43 điểm.
Năm 2011, dù vẫn nằm ở vị trí cuối bảng xếp hạng, tuy nhiên điểm PCI
2011 của Cao Bằng đã tăng lên 5 điểm, đạt mức 50, 81. Trong khi đó điểm
số của các tỉnh đầu bảng giảm. Cụ thể, năm 2009, Đà Nẵng đứng đầu bảng
với số điểm 75,9. Năm 2011, điểm số Đà Nẵng giảm xuống mức 66,9 điểm…
Từ kết quả trên có thể thấy, chất lượng điều hành của các địa phương đã có sự cải thiện so với 2 năm trước. Điểm số gia tăng đã phản ánh cam kết không ngừng cải thiện chất lượng điều hành kinh tế của hầu hết các địa phương.
Tính năng động của lãnh đạo tỉnh sụt giảm mạnh
Theo nhóm nghiên cứu, tính năng động có sự sụt giảm lớn nhất trong điều tra PCI năm nay, đặc biệt tại các tỉnh đứng đầu. Năm 2006, 75% doanh nghiệp tham gia ở tỉnh trung vị cho rằng lãnh đạo tỉnh rất linh hoạt trong khuôn khổ pháp luật nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân. Con số này đã liên tục giảm qua các năm và hiện nay dừng ở con số 65%. Tương tự, 62% doanh nghiệp cho biết khi quy định của Trung ương chưa rõ ràng, lãnh đạo tỉnh rất năng động và sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề mới phát sinh. Năm 2007, chỉ có 47% doanh nghiệp tại tỉnh trung vị đồng ý với nhận định này. Thậm chí số doanh nghiệp này cho rằng lãnh đạo tỉnh có thái độ tích cực với khu vực tư nhân cũng giảm 8% so với mức cao nhất là 53% trong năm 2008.
Kết quả khảo sát PCI 2011 cũng cho thấy, so với những năm trước thì cả doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đều kém lạc quan hơn nhiều về triển vọng kinh doanh.
Năm 2006, trước khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, 76% doanh nghiệp cho biết sẽ tăng quy mô kinh doanh, tỉ lệ này đã giảm xuống mức thấp kỷ lục là 47,4% năm 2011. Mức độ lạc quan của doanh nghiệp tư nhân, loại hình có quy mô nhỏ nhất, bị giảm mạnh, vì đây là nhóm chịu nhiều tác động khi giá cả đầu vào gia tăng và tiếp cận tín dụng khó khăn hơn.
Phí “bôi trơn” quy mô lớn tăng
So với kết quả PCI mấy năm trước, kết quả PCI 2011 cho thấy tình trạng doanh nghiệp phải bỏ ra một số tiền để “lót tay” cho cán bộ cơ quan hành chính địa phương đã có sự cải thiện đáng ngạc nhiên. Năm 2006, 70% doanh nghiệp ở tỉnh trung vị PCI đồng ý với nhận định rằng doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành phải trả chi phí không chính thức, trong khi đó, tình trạng này năm 2011 đã giảm xuống 52%. Tỷ lệ doanh nghiệp dành hơn 10% tổng thu nhập để chi trả chi phí không chính thức cũng đã giảm từ 13% năm 2006 xuống còn 7% năm 2011. Tỷ lệ doanh nghiệp đồng ý với nhận định rằng tình trạng nhũng nhiễu khi giải quyết các thủ tục cho doanh nghiệp khá phổ biến cũng đã giảm xuống mức 40% so với năm 2006 sau khi vọt lên mức cao nhất 51% vào năm 2009.
Tuy nhiên, phí “bôi trơn” với với số lượng tiền lớn dường như lại gia tăng theo thời gian (như hành vi “lại quả” khi ký kết hợp đồng mua sắm công hoặc các thỏa thuận đất đai béo bở). 56% doanh nghiệp tham gia đấu thầu các dự án của nhà nước khẳng định việc chi trả hoa hồng là phổ biến, so với mức 41% của năm trước (2010).
Mặc dù tham nhũng nhỏ gây nhiều phiền toái cho doanh nghiệp đã giảm, song xét cho cùng, tham nhũng lớn vẫn nguy hiểm hơn bởi nó góp phần làm tăng sự bất công giữa một nhóm ít người có quan hệ tốt với chính quyền và phần còn lại của đất nước, đồng thời ảnh hưởng tới niềm tin vào bộ máy nhà nước – Đại diện nhóm nghiên cứu PCI nhận định.
Hồ Hường
Diễn đàn Doanh nghiệp điện tử
