Thẩm tra nội dung này, UB Kinh tế cũng nhận định, nếu mở rộng hơn nữa
các đối tượng thuộc sẽ khó khả thi do hiện nay lực lượng cán bộ thuộc
lĩnh vực này còn mỏng dẫn đến việc quá tải cho ngành Tòa án. Cơ quan
thẩm tra nhất trí khuôn đối tượng áp dụng trong nhóm các DN, hợp tác xã.

Về tiêu chí xác định DN lâm vào tình trạng phá sản, TAND tối cao muốn
thay đổi Điều 3 trong luật hiện hành, thay vì quy định “DN không có khả
năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi
là lâm vào tình trạng phá sản” cần đổi thành tiêu chí cụ thể DN không
có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn từ 200 triệu đồng trở
lên trong thời gian 3 tháng kể từ ngày chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm
vào tình trạng phá sản.
Theo cơ quan soạn thảo, việc quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho DN có khoảng thời gian nhất định để thanh toán nợ.
Tán thành quan điểm quy định rõ tiêu chí và căn cứ để xác định DN lâm
vào tình trạng phá sản, tuy nhiên, UB Kinh tế đề nghị làm rõ cơ sở xác
định khi đưa ra hạn mức 200 triệu đồng.
Cơ quan thẩm tra cũng yêu cầu phía TAND tối cao nghiên cứu, bổ sung tiêu chí về báo cáo tài chính hoạt động sản xuất kinh doanh thời gian gần nhất của doanh nghiệp được tổ chức có thẩm quyền kiểm toán. Có ý kiến cần quy định phân biệt doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và doanh nghiệp phá sản.
Chủ nhiệm UB các vấn đề xã hội Trương Thị Mai đặt câu hỏi: “Căn cứ
đưa ra tiêu chí phá sản với hạn mức nợ 200 triệu đồng là gì và TAND tối
cao đánh giá tác động tới các doanh nghiệp và nền kinh tế như thế nào?”.
Bà Mai tỏ ra băn khoăn vì năm 2012 chỉ có 82 trường hợp DN được tòa án
thụ lý thủ tục phá sản trong khi có đến hàng nghìn DN giải thể, ngừng
hoạt động. Con số đó khiến bà Mai nghi ngờ, quy định về việc phá sản
không đáp ứng yêu cầu thực tế.
Phó Chánh án TAND tối cao Nguyễn Sơn giải trình, luật cũ không định lượng tình trạng cụ thể nên dù số lượng DN rất lớn nhưng số xin mở thủ tục phá sản quá nhỏ. Vì vậy, luật mới phải đưa vào hạn mức 200 triệu đồng và thời hạn 3 tháng. Mục đích để có căn cứ nhất định để xác định phá sản, cũng như có thời gian để các bên giải quyết với nhau thông qua thương lượng, trước khi đưa ra tòa.
Không xuôi với cách giải thích này, Chủ nhiệm UB Tư pháp Nguyễn Văn
Hiện phê thẳng tiêu chí đề xuất là kém khả thi vì mỗi DN có quy mô rất
khác nhau, có Cty TNHH tư nhân chỉ có vài chục triệu đồng vốn đăng ký,
có những tập đoàn, Tcty quy mô vốn lại lên tới hàng chục, hàng trăm
nghìn tỷ đồng.
“Như Vinashin quy mô lên tới hàng chục nghìn tỉ đồng mà chỉ vì một khoản nợ 200 triệu đồng 3 tháng chưa trả mà cho phá sản thì tôi thấy hơi thiển cận và buồn cười” - ông Hiện dẫn chứng.
Chủ nhiệm UB Tài chính ngân sách Phùng Quốc Hiển cũng thẳng thắn nhận
xét, nếu cứ căn cứ theo tiêu chí này thì hiện nay chắc chắn có tới 99%
doanh nghiệp đang hoạt động sẽ bị rơi vào tình trạng phá sản vì thực tế
các DN Việt Nam thường vốn đăng ký chỉ chiếm 15% tổng số vốn hoạt động,
còn lại đều do vay vượn, luân chuyển, huy động từ nhiều kênh khác.
Vì vậy, ông Hiển đề nghị, phải căn cứ vào vốn tự có của doanh nghiệp theo một tỷ lệ nhất định, chứ không thể nói đơn giản là 200 triệu. Về thời gian 3 tháng ông Hiển cũng kiến nghị phải nâng lên, đến mức 6 tháng thậm chí vẫn “chưa thấm tháp gì”.
Phó Chánh án Nguyễn Sơn “bác”, khó xây dựng tiêu chí trên tỷ lệ vốn vì DN có nhiều loại vốn hoạt động và quản lý vốn kinh doanh thực tế của một DN không đơn giản. Vì vậy, cứ có khoản nợ đáng kể như tiêu chí đề ra mà không trả được thì nghĩa là DN đã hết sức khó khăn, lâm vào tình trạng phá sản.
Ủng hộ lập luận này, Thứ trưởng KH-ĐT Đặng Huy Đông phân tích, điều
kiện phá sản với DN thì không phải đặt ra vấn đề nợ 1 triệu đồng là nhỏ
hay 1 tỷ đồng là lớn mà cần đặt câu hỏi, nếu DN hoạt động bình thường
thì sao 10 triệu tiền lương hay 200 triệu đồng tiền hàng lại không thanh
toán được. Theo ông Đông, chỉ cần 1 người lao động bị nợ lương, đòi hỏi
chủ DN không trả được cũng có quyền nộp đơn ra tòa yêu cầu giải quyết
phá sản.
Theo báo cáo của TAND tối cao, năm 2012 có 69.874 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, trong đó dừng hoạt động và giải thể là 54.261 (có 44.906 doanh nghiệp dừng và 9.355 giải thể). Trong khi đó, 9 năm thi hành luật Phá sản 2004, Tòa án thụ lý tổng số 336 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, Tòa án đã ra quyết định mở thủ tục phá sản 236 trường hợp (trong đó Toà án quyết định tuyên bố phá sản 83 trường hợp, còn 153 vụ việc chưa ra Quyết định tuyên bố phá sản). Như vậy có thể thấy số lượng đơn yêu cầu tòa án tuyên bố phá sản so với số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động là rất thấp; có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng trong đó có nguyên nhân quy định pháp luật phá sản chưa phù hợp với tình hình kinh tế và xã hội, không tạo điều kiện cho cá nhân, tổ chức yêu cầu tuyên bố phá sản.
Dân trí
