“Cần phải làm cho hệ thống ngân hàng vững mạnh, để buộc doanh nghiệp nước ngoài có mua lại, cũng phải mua với giá hợp lý", Thống đốc Nguyễn Văn Bình cho biết.
Hiện
chưa có dấu hiệu nào cho thấy, Ngân hàng Nhà nước sẽ kêu gọi sự tham
gia của “khối ngoại” trong việc tham gia thị trường mua bán nợ ngân
hàng, cũng như tăng cổ phần sở hữu tại các ngân hàng trong nước. Trong
khi đó, khối ngân hàng nước ngoài vẫn đặc biệt quan tâm đến vấn đề này.
Ông
Louis Taylor, Tổng giám đốc Ngân hàng Standard Chartered Bank Việt Nam
khẳng định: “Không có câu trả lời dễ dàng cho việc giải quyết nợ xấu.
Tuy nhiên, tôi ủng hộ việc cho phép tăng sở hữu của ngân hàng nước ngoài
tại các ngân hàng trong nước.
Đây là cách nhanh nhất để gia tăng dòng vốn mới vào hệ thống ngân hàng.
Đồng thời, việc làm này là cách nhanh nhất để áp dụng các tiêu chuẩn
quốc tế trong quản trị doanh nghiệp và quản lý rủi ro với các ngân hàng
trong nước. Điều này sẽ giúp Chính phủ nhanh chóng đạt được mục tiêu đề
ra”.
Ông
Trần Anh Vượng, Phó chủ tịch Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội cũng nhận
định, hiện nhiều tập đoàn châu Âu muốn đổ vốn vào châu Á. Vì vậy, nếu
Việt Nam tăng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các ngân hàng nước ngoài tại
Việt Nam, thì sẽ huy động được lượng vốn lớn vào lĩnh vực này.
Lãnh
đạo nhiều ngân hàng nước ngoài cũng cho rằng, thị trường ngân hàng vẫn
là lĩnh vực hấp dẫn đầu tư. Tuy nhiên, các nhà đầu tư vẫn đang đứng quan
sát và chờ động thái của Chính phủ. Nếu “room” sở hữu cổ phần của các
ngân hàng ngoại không thay đổi, việc đầu tư của các ngân hàng nước ngoài
tại thời điểm này là rất mạo hiểm.
Đề án Tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015 đã
cho phép tổ chức tín dụng nước ngoài mua lại, sáp nhập và tăng giới hạn
sở hữu cổ phần tại các ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém được cơ cấu
lại trong nước. Song đến nay, giải pháp này hầu như chưa được tính đến.
TS.
Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế nhận định: “Trong bối cảnh nguồn
vốn trong nước gần như cạn kiệt, rất cần cơ chế để tăng luồng vốn ngoại
đầu tư vào ngân hàng trong nước. Cụ thể, để thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực ngân hàng, tỷ lệ này cần tăng lên khoảng
40%. Trong tương lai, khi sức khỏe của hệ thống ngân hàng ổn định, cần
mở cửa hoàn toàn lĩnh vực ngân hàng”.
Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình khẳng định: “Tăng giới hạn sở
hữu cổ phần của ngân hàng nước ngoài là giải pháp đặt ra trong Đề án Tái
cấu trúc hệ thống các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, nếu chúng ta không
làm khéo, quyền lợi của quốc gia sẽ không được đảm bảo”.
Theo
Thống đốc Nguyễn Văn Bình, nền kinh tế trong nước đang rơi vào tình
cảnh khó khăn nhất, đồng nghĩa với việc cổ phiếu ngân hàng bị định giá
rất thấp.
Vì vậy, nếu mở “room”, không loại trừ việc các ngân hàng ngoại sẽ ồ ạt
mua lại các nhà băng trong nước. Và khi nền kinh tế hồi phục, hệ thống
ngân hàng đã nằm trong tay khối ngoại, doanh nghiệp trong nước có tiền
cũng không thể mua lại. Nói cách khác, nếu bán ngân hàng lúc này là bán
với “tiền lẻ”, trong khi lẽ ra có thể bán với “tiền tấn”.
“Cần
phải làm cho hệ thống ngân hàng vững mạnh, để buộc doanh nghiệp nước
ngoài có mua lại, cũng phải mua với giá hợp lý, không phải mua với tiền
lẻ mà phải mua với giá ‘tiền tấn’. Như vậy, sẽ đảm bảo được quyền lợi
của nhà đầu tư trong nước và buộc nước ngoài mua cổ phiếu với giá hợp
lý”, Thống đốc nói.
TS.
Vũ Viết Ngoạn, Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia tin tưởng,
Việt Nam có thể thực hiện việc tái cấu trúc lĩnh vực ngân hàng, mà không
phải phụ thuộc vào các nguồn vốn từ bên ngoài.
Theo
nhiều chuyên gia kinh tế, trong bối cảnh quản trị của các ngân hàng yếu
kém như hiện nay, việc tăng tỷ lệ sở hữu cổ phần của các ngân hàng nước
ngoài với nhà băng trong nước phải thận trọng, vì các ngân hàng này có
thể chi phối hoàn toàn ngân hàng trong nước.
Tuy nhiên, với những trường hợp quá yếu kém mà không có nguồn lực tái
cấu trúc trong nước, Ngân hàng Nhà nước nên bán lại cho nước ngoài hơn
là “hà hơi thổi ngạt” cho những ngân hàng này.