Giảm lãi suất, doanh nghiệp vẫn còn lo

Những tuyên bố cắt giảm lãi suất cho vay gần đây của các ngân hàng thương mại vẫn chưa làm các doanh nghiệp bớt lo.

vanconlo.jpgHai "ông lớn" của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) mới đây đã tuyên bố hạ lãi suất cho vay.

Chưa vội mừng

Theo đó, BIDV dành cho đối tượng đặc biệt vay thấp nhất là 14,5%/năm và cao nhất 17 - 17,5%/năm. Vietcombank cho vay thương mại và dịch vụ ngắn hạn là 17%/năm, lãi suất cho vay ngắn hạn phục vụ sản xuất là 16,5%/năm và xuất khẩu là 16%/năm. Tuy nhiên, các ngân hàng này cũng khẳng định, chỉ một số ít doanh nghiệp mới có thể tiếp cận được các mức lãi suất này, chủ yếu là những doanh nghiệp có quan hệ với ngân hàng lâu năm, rủi ro thấp, không có nợ quá hạn và có nguồn thu từ xuất khẩu.

Nếu để ý kỹ hơn thì chỉ có một số ít ngân hàng thương mại giảm lãi suất cho vay, còn các ngân hàng khác hoàn toàn chưa có động thái nào trong việc này. Thực tế, cơ cấu nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại (NHTM) rất khác nhau. Những NHTM vốn phải vật lộn với tình trạng thiếu thanh khoản không dễ gì có nguồn vốn cho vay với lãi suất thấp.

Gánh nặng thanh khoản đang là lực cản cho tiến trình hạ lãi suất cho vay. Hệ quả này nằm ở sự lệch pha lâu nay giữa nguồn vốn huy động chủ yếu là kỳ hạn ngắn, từ dưới 1 tháng cho đến 1-3 tháng rồi đem cho vay trung và dài hạn. Thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, tỷ lệ dư nợ cho vay trung và dài hạn của các ngân hàng đang tăng lên, không còn dừng ở mức 30 - 40% của dư nợ tín dụng, mà cao hơn nữa. Cá biệt có trường hợp lên tới gần 100%. Trong khi đó, nguồn vốn của hệ thống ngân hàng lại hoàn toàn lệ thuộc vào việc huy động vốn từ khu vực dân cư và doanh nghiệp. Để đối mặt với rủi ro thanh khoản này, các NHTM buộc phải co về phòng thủ bằng cách cắt giảm cho vay, do vậy lãi suất trên thị trường tín dụng sẽ khó giảm.

Căn nguyên bất ổn

TS. Hoàng Công Gia Khánh, Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP.HCM) có cách nhìn khác với nhiều ý kiến trước đây khi cho rằng, tình trạng bất ổn lãi suất còn phụ thuộc vào hoạt động của nhóm ngân hàng đang thừa thanh khoản và cách điều hành của NHNN. Nhóm ngân hàng thừa thanh khoản có lợi thế trong việc huy động vốn và càng lợi thế hơn khi gần đây lãi suất tiền gửi được khống chế ở mức 14%/năm. Mặt khác, nhờ tiếp cận được nguồn vốn từ NHNN (điều mà nhóm ngân hàng thiếu thanh khoản không có được), các ngân hàng có thanh khoản tốt có đủ khả năng áp đặt lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Trong điều kiện túng thiếu thanh khoản, các ngân hàng nhỏ không có cách nào khác là phải chấp nhận.

Trên nguyên tắc, trong điều kiện bình thường, NHNN không trực tiếp ấn định lãi suất giữa ngân hàng với khách hàng mà chỉ gián tiếp điều tiết thông qua vai trò người cho vay cuối cùng trên thị trường liên ngân hàng với hai công cụ lãi suất (gồm lãi suất tái chiết khấu và tái cấp vốn) và thị trường mở. Nhưng hiện nay, các công cụ của NHNN bị vô hiệu hóa do lãi suất ấn định trên thị trường mở (khi đấu thầu khối lượng) và lãi suất tái cấp vốn không phản ánh đúng quan hệ cung cầu của thị trường vì NHNN không cung đủ hoặc do các ngân hàng không đủ điều kiện để vay.

Căn nguyên bất ổn

TS. Hoàng Công Gia Khánh, Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP.HCM) có cách nhìn khác với nhiều ý kiến trước đây khi cho rằng, tình trạng bất ổn lãi suất còn phụ thuộc vào hoạt động của nhóm ngân hàng đang thừa thanh khoản và cách điều hành của NHNN. Nhóm ngân hàng thừa thanh khoản có lợi thế trong việc huy động vốn và càng lợi thế hơn khi gần đây lãi suất tiền gửi được khống chế ở mức 14%/năm. Mặt khác, nhờ tiếp cận được nguồn vốn từ NHNN (điều mà nhóm ngân hàng thiếu thanh khoản không có được), các ngân hàng có thanh khoản tốt có đủ khả năng áp đặt lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Trong điều kiện túng thiếu thanh khoản, các ngân hàng nhỏ không có cách nào khác là phải chấp nhận.

Trên nguyên tắc, trong điều kiện bình thường, NHNN không trực tiếp ấn định lãi suất giữa ngân hàng với khách hàng mà chỉ gián tiếp điều tiết thông qua vai trò người cho vay cuối cùng trên thị trường liên ngân hàng với hai công cụ lãi suất (gồm lãi suất tái chiết khấu và tái cấp vốn) và thị trường mở. Nhưng hiện nay, các công cụ của NHNN bị vô hiệu hóa do lãi suất ấn định trên thị trường mở (khi đấu thầu khối lượng) và lãi suất tái cấp vốn không phản ánh đúng quan hệ cung cầu của thị trường vì NHNN không cung đủ hoặc do các ngân hàng không đủ điều kiện để vay.


vanconloo.jpg

Trần lãi suất huy động 14%/năm có tác dụng ngăn chặn cuộc đua lãi suất giữa các ngân hàng, nhưng việc áp dụng trong một thời gian dài đang gây méo mó thị trường. Về vấn đề này, TS. Phạm Đỗ Chí, chuyên gia kinh tế và đầu tư cao cấp của IMF cho rằng, trần lãi suất huy động không những không hiệu quả mà còn làm tăng thêm nguy cơ kéo chi phí các khoản vay tăng lên ở mức cao và hạn chế khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng. Khi mặt bằng lãi suất huy động như nhau thì các ngân hàng nhỏ sẽ lâm vào thế bất lợi vì không thể cạnh tranh được với ngân hàng lớn, gián tiếp đẩy ngân hàng nhỏ phải "phá rào" và như thế không thể không ảnh hưởng đến thị trường vốn. Các ngân hàng lớn có lợi thế về vốn đang trở thành nhà cho vay nặng lãi đối với các ngân hàng nhỏ, gián tiếp đẩy cuộc đua lãi suất lên cao.

Chờ sự ra tay của NHNN

Tháo gỡ gánh nặng thanh khoản cho các ngân hàng là mở con đường đầu tiên cho việc giảm lãi suất. Điều này hoàn toàn nằm trong tầm tay của NHNN. Theo TS. Hoàng Công Gia Khánh, với khối lượng giấy tờ có giá (chủ yếu là trái phiếu chính phủ) chiếm tỉ lệ khá nhỏ, NHNN khó có thể trung hòa một cách hiệu quả với lượng cung tiền gia tăng vì lý do đảm bảo thanh khoản cho các ngân hàng. Vì vậy, NHNN có thể phát hành tín phiếu với lãi suất hợp lý để huy động vốn từ các ngân hàng thừa thanh khoản, xem lãi suất tín phiếu là giá phải trả để bình ổn thị trường. Song song đó, để nhóm ngân hàng thừa thanh khoản không tìm cách né tránh mua tín phiếu mà vẫn muốn cho vay liên ngân hàng để kiếm lãi suất cao, NHNN cần nhanh chóng cắt "cơn khát" này, từ đó mới kiểm soát được lãi suất liên ngân hàng. Chấp nhận mở rộng loại giấy tờ có giá để giao dịch với nhóm ngân hàng thiếu thanh khoản, kể cả cổ phiếu của chính họ với các điều kiện ràng buộc chặt chẽ là giải pháp cần tính đến trong ngắn hạn. Giả sử, nếu gián tiếp để lãi suất liên ngân hàng duy trì ở mức cao như là cách để khuất phục các ngân hàng thiếu thanh khoản thì đây là lựa chọn khá mạo hiểm, bởi việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng không thể hoàn tất trong một sớm một chiều mà cần phải có thời gian đủ dài. Trong trường hợp đó cái giá phải trả đối với toàn bộ nền kinh tế có thể là quá đắt!




Bài: Minh Phương
Ảnh: H.P





Theo

Trụ sở chính: 132 Nguyễn Tuân - P.Thanh Xuân Trung - Q. Thanh Xuân - TP.Hà Nội

ĐT: 024.35571875/76/77 – Fax: 024.35571874

Email: vanphong.vacod@gmail.com

Website: vacod.vn

Các đơn vị trực thuộc

Văn phòng Vacod miền trung - Tp Đà Nẵng

Địa chỉ: Số 278/4 Nguyễn Văn Linh - Thành phố Đà Nẵng
ĐT: 0236.3652692 - Fax: 0236.3653208

Văn phòng Vacod miền nam - Tp Hồ Chí Minh

Địa chỉ: Số 6A Phạm Đình Toái, Phường 6, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
ĐT: 0983358188

Công ty TNHH MTV Vacod

Trụ sở chính: 132 Nguyễn Tuân - Thanh Xuân - Hà Nội
ĐT: 024.35571875/76/77 – Fax: 024.35571874

Viện nghiên cứu phát triển hàng tiêu dùng Việt Nam

Trụ sở chính: 132 Nguyễn Tuân - Thanh Xuân - Hà Nội
ĐT: 024.35571875/76/77 – Fax: 024.35571874

Cơ quan ngôn luận: Tạp chí Thương Gia

Địa chỉ: Số 14, Khu 249A Thụy Khuê, Quận Tây Hồ, Hà Nội
ĐT: 0879 504 666 - Email: toasoan@thuonggiaonline.vn
Website: https://thuonggiaonline.vn/