"Cái khó ló cái khôn”
Thời
gian qua, ngành thép, xi măng được đánh giá có chỉ số tồn kho ở mức khá
cao, vượt trên 50% do những khó khăn bủa vây như chính sách cắt giảm
đầu tư công, thị trường bất động sản đóng băng, người tiêu dùng hạn chế
chi tiêu... dẫn đến hàng loạt công trình bị ngưng trệ. Trước tình cảnh
này, DN thép, xi măng đã không ngừng nỗ lực tìm kiếm một lối thoát riêng
cho mình.
Tiên phong trong việc đem thép Việt “xuất ngoại”, Công
ty CP Thép Pomina đã tung những thủ lĩnh giỏi trong đội ngũ kinh doanh
đến hầu hết các đối tác để giới thiệu sản phẩm và chinh phục khách hàng
thông qua chất lượng sản phẩm và giá hợp lý. Nhờ vậy, trong những tháng
cuối năm 2012, Pomina đã xuất khẩu với doanh số tăng trên 30% so với năm
2011.
Tương tự, nếu thời điểm trước, các DN sản
xuất kinh doanh xi măng chỉ chăm chăm vào thị trường nội địa, thì nay,
sau thời gian dài hàng hóa tồn kho chồng chất đã vươn mình tìm hướng
xuất khẩu thành công và giải phóng hàng tồn hiệu quả.
Theo Hiệp
hội Xi măng Việt Nam, cả nước hiện có 8 DN xuất khẩu clanhke và xi măng.
Trong đó, có 6 DN trong nước gồm các đầu mối: Vicem, Hạ Long, Thăng
Long, Cẩm Phả, The Vissai, Công Thanh và 2 DN xi măng liên doanh với
nước ngoài gồm Chinfon và Phúc Sơn.
Kế hoạch 5 triệu tấn clanhke
và xi măng xuất khẩu trong năm 2012 đã cán đích, do vậy đã kéo giảm
lượng hàng tồn kho đáng kể về mức 2,5 triệu tấn. Trong đó, các thị
trường xuất khẩu chủ yếu của ngành xi măng gồm: Campuchia, Lào,
Bangladesh và Indonesia.
Đối với các sản phẩm có
lượng hàng tồn kho lớn như: đồ gỗ, thức ăn chăn nuôi, may mặc... cũng đã
có những giải pháp hữu hiệu bằng cách tăng năng lực phân phối để quay
nhanh đồng vốn, tránh các chi phí tăng cao, giữ chân khách hàng, tăng
chất lượng, đẩy mạnh marketing, quảng bá…
Bà Bùi Thị Vui, Giám
đốc Công ty TNHH SX TM Thành Tâm, chuyên về quần áo may sẵn, quận 12
TPHCM, cho biết: “Thời gian qua do sức tiêu thụ chậm nên DN luôn phải
gia tăng tìm kiếm thị trường mới, tìm cách tham gia các website mua bán
hàng hóa để đưa sản phẩm đến với nhiều đối tác mới. Thậm chí phải giảm
giá bán, đưa hàng về với thị trường nông thôn, miền núi, hàng mới sản
xuất mẫu mã phải phong phú và đẹp hơn, tiết kiệm hơn, giá cả phải chăng…
“Cái khó ló cái khôn”, vừa qua nhờ xử lý hàng tồn mà DN thiết lập được
bạn hàng mới, nhờ đó công nhân có việc làm, doanh thu công ty tăng lên”.
![]() |
Các doanh nghiệp xi măng tăng cường xuất khẩu để giải phóng hàng tồn kho. |
Hàng tồn ở ngưỡng cho phép
Theo
báo cáo mới nhất của Tổng cục Thống kê, chỉ số tồn kho ngành công
nghiệp chế biến, chế tạo đến thời điểm này tăng ở mức 20,3% so với cùng
kỳ. Tuy đây chưa phải là con số “đẹp” so với mức tồn kho ở ngưỡng cho
phép dao động 15% - 17%. Song chỉ số tồn kho này thấp hơn so với cùng kỳ
và những tháng đầu năm ở mức báo động là trên 35%.
Điều này cho
thấy, dù trong tình cảnh hết sức khó khăn, nhưng bằng nỗ lực của cộng
đồng DN, bên cạnh chính sách điều hành vĩ mô hiệu quả đã giúp hạ nhiệt
lượng hàng hóa tồn kho về ngưỡng an toàn.
Theo đánh giá của Bộ
trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng, hiện tại lượng sắt thép, xi măng còn
tồn kho là do thời gian qua phát triển vượt quy hoạch cộng với nhập
khẩu dẫn đến cung vượt cầu... Riêng đối với mức tồn kho hiện nay ở các
lĩnh vực khác là bình thường, ở ngưỡng cho phép.
Còn
theo TS Nguyễn Minh Phong, Viện Nghiên cứu Kinh tế - xã hội, mỗi mặt
hàng, DN lại có tỷ lệ tồn kho khác nhau nên không có giải pháp cụ thể
cho tất cả các mặt hàng tồn kho. Nhưng giải pháp chung, đối với hàng
nguyên liệu DN cần thay đổi cơ cấu hàng nhập khẩu, hạ giá thành sản phẩm
và mở rộng mạng lưới bán buôn để tiêu thụ hàng. Với các mặt hàng thành
phẩm, tồn kho buộc DN phải điều chỉnh hướng sản xuất, nhập khẩu. Bên
cạnh đó, phải chuyển đổi mục đích sử dụng của sản phẩm nếu được.
Về
vĩ mô, trong bối cảnh tiếp tục kiềm chế lạm phát, nhà nước và các hiệp
hội nên hỗ trợ bằng cách tăng cường xúc tiến thương mại một cách hiệu
quả. Nhiều chuyên gia kinh tế cũng cho rằng, kinh tế sẽ vẫn còn khó
khăn, tỷ lệ hàng tồn kho có thể tăng cao trở lại nếu không có giải pháp
căn cơ. Nhưng tùy vào từng nhóm hàng cụ thể mà DN và các nhà hoạch định
chính sách đưa ra những giải pháp nhất định để xử lý. Các DN nên tìm
phương án thích hợp nhất để tiết giảm chi phí, nâng cao năng suất, cải
tiến mẫu mã, giảm giá bán...
Còn với kinh nghiệm thực tế, Tổng
Giám đốc Công ty CP Savimex Bùi Ngọc Quới cho biết, hiện tại, thị trường
tiêu dùng một số nước phát triển như: Nhật, Mỹ… có xu hướng tăng trưởng
trở lại và sản phẩm của Việt Nam lại rất được tín nhiệm, ưa chuộng. Do
vậy, đây là một lợi thế rất lớn. Tuy nhiên, khác với trước đây, các sản
phẩm của doanh nghiệp hiện nay làm ra nên ở mức trung bình, không quá
cao cấp, từ đó đưa ra mức giá hợp lý để thị trường có thể chấp nhận
được.
| |
Theo Lạc Phong
SGGP

