Bộ trưởng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh là đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước tại các DNNN do Bộ, UBND cấp tỉnh quyết định thành lập; còn Bộ Tài chính thực hiện một số quyền, nghĩa vụ của đại diện chủ sở hữu DNNN; Hội đồng quản trị là đại diện chủ sở hữu trực tiếp vốn Nhà nước tại DNNN có hội đồng quản trị. DNNN được quyền chủ động sử dụng vốn Nhà nước giao, các loại vốn khác, các quỹ do DNNN quản lý vào hoạt động kinh doanh; chịu trách nhiệm về bảo toàn, phát triển vốn, hiệu quả sử dụng vốn.
Trên
thực tế, việc phân công, phân cấp thực hiện quyền và nghĩa vụ chủ sở
hữu Nhà nước đối với tập đoàn kinh tế Nhà nước còn những điểm chưa hợp
lý, chưa rõ ràng, còn phân tán vai trò và trách nhiệm của các bộ, ngành,
UBND trong quản lý, giám sát việc sử dụng vốn, tài sản tại các tập đoàn
kinh tế.
Việc
giám sát, đánh giá của chủ sở hữu trong thời gian qua chủ yếu căn cứ
vào kết quả thực hiện so với kế hoạch do các DNNN tự xây dựng và đăng ký
nên chưa phản ánh rõ được yêu cầu và đòi hỏi của chủ sở hữu Nhà nước
đối với các DNNN, nhất là đối với các tập đoàn kinh tế và tổng công ty
quy mô lớn và quan trọng, dẫn đến nhiều cơ quan Nhà nước còn gặp khó
khăn trong việc nắm bắt một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác thông tin
về vốn, tài sản Nhà nước và tình hình hoạt động tại các tập đoàn kinh
tế.
Một số sai phạm trong quản lý, sử dụng vốn và tài sản Nhà nước chỉ
phát hiện sau thanh tra, kiểm tra tại các tập đoàn kinh tế hoặc có khiếu
nại, tố cáo.
Do
vậy, để khắc phục những tồn tại về cơ chế giám sát trong các văn bản
quy phạm trước đây không còn phù hợp, ngày 25-6-2013, Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành Nghị định 61/2013/NĐ-CPvề quy chế giám sát tài chính và
đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và công khai thông tin
tài chính đối với DN do Nhà nước là chủ sở hữu và DN có vốn Nhà nước.
| Theo Bộ Tài chính, tổng số DNNN thực hiện các hình thức sắp xếp, cổ phần hóa giai đoạn 2011 - 2015 có 899 DN. Cụ thể là cổ phần hóa: 367 doanh nghiệp; Các hình thức sắp xếp khác (giao, bán, giải thể, phá sản, giữ nguyên là công ty TNHH MTV, chuyển thành công ty TNHH 2 thành viên): 532 doanh nghiệp. Tính đến hết năm 2012, cả nước có 73 tập đoàn, tổng công ty (TĐ, TCT) Nhà nước, với tổng vốn sở hữu là 735.293 tỷ đồng, tăng 1% so với năm 2011; Tổng tài sản là 2.138.780 tỷ đồng, tăng 2% so với năm 2011, trong đó tài sản cố định chiếm tỷ trọng bình quân là 43,7%. |
Theo
đó, chủ thể giám sát tài chính trong DN do Nhà nước làm chủ sở hữu cũng
được phân cấp cho bộ quản lý ngành, UBND tỉnh và cơ quan quản lý tài
chính từ Trung ương (Bộ Tài chính) đến địa phương (Sở Tài chính) trong
DN do Nhà nước làm chủ sở hữu và DNNN nắm giữ trên 50% vốn điều lệ và
không quá 50% vốn điều lệ.
Việc tổ chức giám sát cũng được quy định từ chủ sở hữu, Bộ Tài chính đến doanh nghiệp. Trong đó, Bộ Tài chính thực hiện nhiệm vụ phối hợp, hỗ trợ các bộ, ngành thực hiện giám sát tài chính, tổng hợp báo cáo giám sát tài chính và đưa ra những khuyến nghị, cũng như quy định các nguyên tắc chung trong đánh giá hiệu quả hoạt động của DN.
Cũng
theo ông Vũ Nhữ Thăng, Nghị định 61/2013/NĐ-CP cũng quy định về giám
sát tài chính đặc biệt đối với DN do Nhà nước làm chủ sở hữu và những
quy định về công khai thông tin tài chính về tình hình tài chính, kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh, trích lập sử dụng các quỹ, đóng góp
vào NSNN, thu nhập của viên chức quản lý và người lao động cũng như tình
hình quản trị doanh nghiệp.
Việc quy định cơ chế giám sát rõ ràng, cụ thể trách nhiệm và quyền hạn của các bộ, ngành, UBND cũng như nhiệm vụ của Bộ Tài chính trong việc quản lý, giám sát phần vốn Nhà nước trong các DNNN sẽ tạo tiền đề quan trọng cho việc nâng cao hiệu quả quản lý giám sát tài chính Nhà nước tại DNNN.
Theo
đó, nội dung giám sát trong Nghị định 61/2013/NĐ-CP được quy định cụ
thể cho các DN 100% vốn Nhà nước và DN có trên hoặc dưới 50% vốn Nhà
nước như: Tập trung vào quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại
doanh nghiệp; giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn; giám sát hoạt
động kinh doanh của DN, kế hoạch đầu tư, thực hiện dự án đầu tư, tình
hình huy động vốn, vay nợ nước ngoài của DN; thực hiện chính sách đối
với người lao động trong DN; phân phối lợi nhuận và phân chia rủi ro từ
phần vốn góp.
Quy
chế mới này sẽ góp phần đánh giá đúng thực trạng, hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp, kịp thời giúp doanh nghiệp khắc phục những tồn tại,
hoàn thành mục tiêu, kế hoạch kinh doanh, nhiệm vụ công ích, nâng cao
hiệu quả sản xuất, kinh doanh và khả năng cạnh tranh; nâng cao trách
nhiệm của doanh nghiệp trong việc chấp hành các quy định của pháp luật
đối với việc quản lý và sử dụng vốn Nhà nước; giúp Nhà nước, chủ sở hữu
vốn đầu tư vào doanh nghiệp khác, cơ quan quản lý nhà nước về tài chính
doanh nghiệp kịp thời phát hiện các yếu kém trong quá trình hoạt động
sản xuất, kinh doanh của doanh.
Bên cạnh đó cũng tăng cường quy định các chế tài xử lý vi phạm và hình thức kỷ luật đối với các chủ thể khi vi phạm hoặc không hoàn thành nhiệm vụ giám sát tài chính DN sẽ góp phần đảm bảo tính minh bạch, là cơ sở nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách, pháp luật quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước đối với DN do Nhà nước làm chủ sở hữu và DN có vốn Nhà nước.
Theo Thu Hằng
Báo hải quan
