![]() |
| Tui ni lông là một trong những sản phẩm bị đánh thuế bảo vệ môi trường. Ảnh minh họa: Minh Tâm |
Trường hợp doanh nghiệp đã nộp thuế BVMT đối với hàng hoá bán ra hoặc nhập khẩu từ nước ngoài vào Việt Nam thì hàng hoá đó sẽ không phải chịu thuế BVMT ở các khâu mua bán sau đó (mua bán giữa tổ chức, cá nhân trong nội địa, trong khu phi thuế quan, từ nội địa vào khu phi thuế quan và ngược lại, giữa các khu phi thuế quan với nhau).
Ngoài ra, trong công văn này, Bộ Tài chính cũng quy định cách tính thuế của loại túi ni lông đa lớp và thuốc diệt cỏ hạn chế sử dụng.
Đối với túi ni lông đa lớp là loại túi được sản xuất từ màng nhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE và các loại màng nhựa khác (Polypropylene - PP, Polyamit-PA,…). Thuế BVMT túi ni lông đa lớp được tính theo tỷ lệ % trọng lượng các loại màng nhựa này có trong túi, theo định mức mà doanh nghiệp đăng ký từ đầu năm hoặc đầu kỳ sản xuất với cơ quan quản lý trực tiếp.
Đối với thuốc diệt cỏ hạn chế sử dụng, Bộ tài chính chưa thu thuế BVMT. Trong công văn có quy định rõ " Danh mục thuốc bảo vệ thực vật hạn chế sử dụng chưa quy định về thuốc diệt cỏ loại hạn chế sử dụng. Vì vậy, chưa thu thuế BVMT đối với thuốc diện cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng."
|
Ví
dụ: Doanh nghiệp A (trong nội địa) sản xuất túi ni lông bán cho doanh
nghiệp B (trong khu phi thuế quan). Doanh nghiệp A phải khai, nộp thuế
BVMT đối với túi ni lông khi xuất bán cho doanh nghiệp B. Doanh nghiệp B
không phải khai, nộp thuế khi nhập vào khu phi thuế quan hoặc khi xuất
bán lượng túi ni lông đó. |

