Quyết định đúng
Ngày 10/5/2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 13/NQ-CP về một số giải
pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ thị trường.
Trong đó nêu rõ, Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ
quan, địa phương thực hiện các biện pháp cơ cấu lại nợ (thời hạn trả nợ,
lãi suất, cho vay mới trả nợ cũ...) và các giải pháp khác cần thiết,
phù hợp với từng loại hình, lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, tạo điều
kiện thuận lợi cho DN vay được vốn phục vụ sản xuất - kinh doanh, nhất
là đối với những DN có triển vọng phát triển, có sản phẩm đáp ứng yêu
cầu của thị trường nhưng đang gặp khó khăn về tài chính.
Những tháng đầu năm 2012, khó khăn của DN do ảnh hưởng của lạm phát cao
và suy giảm tăng trưởng kinh tế năm 2011 bắt đầu lộ rõ. Chưa có thời
điểm nào mà con số DN phải tạm ngừng hoạt động, thua lỗ và có nguy cơ
phá sản lại nhiều như hiện nay. Không chỉ các DN bất động sản rơi vào
khủng hoảng, mà một loạt DN trong các lĩnh vực kinh doanh khác cũng suy
thoái.
Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Cao Viết Sinh cho biết, năm 2011 có hơn
53.000 DN và 4 tháng đầu năm nay có 17.700 DN giải thể và ngừng hoạt
động. Hai con số này cộng lại chiếm hơn 40% tổng số DN giải thể và ngừng
hoạt động từ trước đến nay. Như vậy, tính đến ngày 30/4/2012, trong
tổng số hơn 647.600 DN đã thành lập, cả nước còn khoảng 463.800 DN đang
hoạt động, chiếm 71,6%; có trên 81.900 DN đã giải thể, trên 16.000 DN đã
đăng ký dừng hoạt động và trên 85.800 DN dừng hoạt động nhưng không
đăng ký.
![]() |
"Nếu cứ đà này, trung bình một tháng sẽ có từ 4.000 - 4.500 DN giải thể,
thì chắc chắn năm nay, con số sẽ xấp xỉ năm ngoái, dự báo khoảng 50.000
DN sẽ giải thể, ngừng hoạt động. Điều này nói lên mức độ khó khăn của
DN hiện nay", ông Sinh nói.
Chính phủ đã có nhiều giải pháp hỗ trợ DN, hỗ trợ thị trường nhằm cứu
các DN trong thời khốn khó. Nghị quyết 13 được nhìn nhận là luồng gió
mới thổi vào từng lĩnh vực sản xuất - kinh doanh trên khắp cả nước.
Đã có tiền lệ
Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia ngân hàng, Luật Các tổ chức tín
dụng năm 2010 của Việt Nam không đề cập đến vấn đề cơ cấu lại nợ. Chỉ có
các văn bản dưới luật không cho phép cơ cấu lại nợ nếu mục đích của
việc cơ cấu lại nợ là để lấy nợ mới trả nợ cũ và do đó làm mất đi dấu
vết của nợ xấu, nhưng có thể được giải thích là không ngăn cấm việc cơ
cấu lại nợ nếu có những lý do chính đáng.
Tại Mỹ, luật pháp không cấm đảo nợ, tái cơ cấu nợ, gia hạn nợ..., nhưng
khoản vay mới phải được thực hiện trong khuôn khổ chính đáng. Rất nhiều
trường hợp cơ cấu lại nợ ở Mỹ, chẳng hạn có nợ cũ lãi suất 10%, DN xin
vay một khoản nợ mới với số tiền tương tự để trả nợ cũ, nhưng lãi suất
nợ mới giảm xuống 7% và kỳ hạn trả nợ được thay đổi để thích hợp hơn với
điều kiện tài chính mới của DN, cùng với điều kiện thế chấp và những
điều kiện vay dễ dàng hơn.
Luật sư Trương Thanh Đức cho rằng, cơ cấu lại nợ bao gồm thời hạn trả
nợ, lãi suất, cho vay mới trả nợ cũ..., thực chất chính là một dạng đảo
nợ. Trên thực tế, việc đảo nợ sẽ phân biệt theo 2 cách: đảo nợ theo
nghĩa che giấu nợ xấu, DN không thể trả nợ vay nhưng ngân hàng vẫn kéo
dài khoản nợ để làm đẹp sổ sách, thì sẽ phải cấm; còn đảo nợ theo nghĩa
về sản xuất - kinh doanh như DN bị khó khăn tạm thời, không trả được nợ
thì ngân hàng sẽ kéo dài nợ. Đó cũng là bản chất của ngành ngân hàng,
sinh ra là để đảo nợ, DN hết vay món này lại trả món kia và vòng quay
như vậy luôn xoay, chứ không bao giờ dứt điểm.
Theo thông lệ quốc tế, việc các ngân hàng áp dụng tái cơ cấu vay nợ của
khách hàng là hoạt động rất bình thường. Câu hỏi quan trọng nhất ở đây,
theo ông Phạm Hồng Hải - Phó tổng giám đốc Ngân hàng TNHH một thành viên
HSBC, là việc tái cơ cấu này có giúp khách hàng trả được nợ trong tương
lai hay không? Ví dụ, khách hàng đang nợ 1 tỷ đồng, một số trường hợp
không những ngân hàng gia hạn khoản nợ, mà còn cho vay thêm, để khách
hàng có thể hoàn thành xong dự án, có thể trả được tiền. Hoặc ngân hàng
chỉ đòi 500 triệu đồng, 500 triệu đồng còn lại giãn ra.
"Hoạt động của ngân hàng dựa trên quan điểm bằng mọi cách hỗ trợ khách
hàng để khách hàng hoặc tháo gỡ khó khăn, hoặc tốt hơn nữa là kinh doanh
hiệu quả, từ đó lợi cho chính ngân hàng, ngân hàng có thể thu hồi tiền,
bên cạnh đó củng cố quan hệ với khách hàng. Do vậy, việc giúp khách
hàng mà đảm bảo ngân hàng có khả năng thu hồi toàn bộ số nợ hay một phần
nợ thì nên làm. Đó là việc rất bình thường", ông Hải nhấn mạnh.
Nhưng cần thận trọng
Trao đổi với ĐTCK, lãnh đạo một ngân hàng cho biết, hiện ngân hàng ông
đang dư khoảng 10.000 tỷ đồng, nhưng không dám cho vay. Mặt khác, rất
nhiều DN hiện nay cũng không dám vay, bởi hàng tồn kho còn quá nhiều,
sản xuất tiếp sợ không ai mua. Giám đốc một DN sản xuất - kinh doanh bao
bì ở Đồng Nai chia sẻ, DN ông từ tháng 4 trở lại đây tồn kho 100%, dù
đã giảm 60% công suất, nên mọi hoạt động sản xuất đang phải tạm dừng và
chờ đợi.
"Hiện tại, chẳng ngân hàng nào dám huy động với lãi suất cao, vì không
muốn tiếp tục ôm đống tiền vào mà biết chắc khó có thể làm gì để có lợi
nhuận phù hợp. Đối với các DN đi vay thời điểm hiện tại, không ít trong
số đó chắc chắn chỉ là để cơ cấu lại nợ", vị lãnh đạo ngân hàng trên
nhận định.
"Theo Nghị quyết 13, không phải DN nào cũng được cơ cấu lại nợ. Do vậy,
quan trọng là việc ngân hàng làm có nhằm mục đích cuối cùng để khách
hàng trả được nợ cho mình hay không? Bản thân hành động đó không hề sai,
nhưng nếu lạm dụng theo kiểu muốn giấu nợ xấu sẽ thành sai", ông Hải
nói.
TS. Hiếu nhấn mạnh, ngân hàng khi tái cơ cấu nợ phải chứng minh được
khách hàng đó có khả năng, chứ không phải dùng để làm mập mờ sổ sách,
không phải xào nấu số liệu để món nợ trở nên "đẹp" hơn. Chuyện này đưa
đến rủi ro có rất nhiều khoản nợ đáng lý ra đã quá hạn phải chuyển xuống
nhóm nợ xấu, thì cách giãn nợ và đảo nợ làm cho các món nợ đó trở thành
nợ tốt, chất lượng các món nợ được giữ tốt một cách giả tạo. Nhưng vấn
đề đằng sau quan trọng hơn là nếu nợ xấu cứ tụt từ 3 xuống 4, xuống 5,
rủi ro tín dụng tăng lên đồng nghĩa với việc buộc ngân hàng phải đẩy chi
phí dự phòng rủi ro tăng tương ứng.
"Nếu ngân hàng giữ nợ xấu ở nhóm 2, đặc biệt nếu giữ được ở nhóm 1 thì
chi phí dự phòng rủi ro rất thấp, chỉ 0,75%, nghĩa là ngân hàng tiết
kiệm được một khoản chi phí không nhỏ. Đó là một động cơ có khả năng dẫn
đến tình trạng lạm dụng Nghị quyết 13", TS. Hiếu nói.
Luật sư Đức nêu quan điểm: "Thực tế cho thấy, ranh giới giữa đảo nợ để
che giấu nợ xấu với đảo nợ để sản xuất rất khó phân biệt và đặc biệt còn
phụ thuộc vào đạo đức, quan điểm... của từng ngân hàng".
"Tuy nhiên, đừng nhầm tưởng để có con số nợ xấu đẹp thì các ngân hàng
cũng yên tâm hơn, thị trường nhìn vào thấy tin tưởng hơn, Ngân hàng Nhà
nước cũng dễ điều khiển hệ thống hơn..., vì bản chất của nền kinh tế,
bản chất của vấn đề sẽ lại nguy hiểm hơn. Ngân hàng cũng là DN, hai bên
luôn phải dựa vào nhau, quan hệ mật thiết, sống còn với nhau. Trạng chết
thì Chúa cũng băng hà", một chuyên gia kinh tế nói.
Tác giả: Hồng Dung
(Theo ĐTCK)

