Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát trong tầm kiểm soát, chỉ số tăng trưởng… cho thấy bức tranh kinh tế 2 tháng đầu năm của Việt Nam ghi nhận nhiều dấu hiệu tích cực.
Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng tuy có giảm 18,4% so với tháng 1/2026 nhưng lại tăng 1% nếu so với cùng kỳ năm 2025; Tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu hàng hóa trong tháng đạt 67,16 tỷ USD, tăng hơn 5% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, vốn FDI đăng ký mới 2 tháng đầu năm 2026 đạt 3,54 tỷ USD, tăng 61,5% so với cùng kỳ, vốn FDI thực hiện ước đạt 3,21 tỷ USD, tăng 8,8%.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 2,98 tỷ USD (cùng kỳ năm 2025 xuất siêu 1,77 tỷ USD).
CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2/2026 tăng 1,14% so với tháng 1/2026 nguyên nhân chính là do giá thực phẩm, ăn uống ngoài gia đình và dịch vụ giao thông tăng do nhu cầu mua sắm, đi lại của người dân tăng trong dịp Tết Nguyên đán.
CPI tháng 2/2026 tăng 1,19% so với tháng 12/2025 và tăng 3,35% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 2 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 2,94% so với cùng kỳ năm ngoái; lạm phát cơ bản tăng 3,47%.
Lạm phát cơ bản tháng 2/2026 tăng 0,82% so với tháng 1/2026 và tăng 3,74% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 2 tháng đầu năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 3,47% so với năm 2025, cao hơn mức tăng 2,94% của CPI bình quân chung, nguyên nhân chủ yếu do giá lương thực, năng lượng là yếu tố góp phần làm giảm CPI chung nhưng đã được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.
Tính đến ngày 28/2, giá vàng thế giới bình quân ở mức 5.023,09 USD/ounce, tăng 6,12% so với tháng 1/2026 do nhu cầu của các nhà đầu tư tiếp tục gia tăng trong bối cảnh các bất ổn kinh tế và địa chính trị kéo dài. Trong nước, nhu cầu mua sắm vàng lấy may trong ngày Thần Tài sau Tết Nguyên đán tăng góp phần làm chỉ số giá vàng trong tháng tăng 11,42% so với tháng trước; tăng 88,42% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 2 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 82,67% so với cùng kỳ năm ngoái.
Cũng tính đến ngày 28/2, chỉ số giá đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 97,31 điểm, giảm 0,81% so với tháng 1/2026 chủ yếu do đồng USD suy yếu tương đối khi một số đồng tiền chủ chốt phục hồi trở lại. Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 2/2026 giảm 0,89% so với tháng trước; tăng 2,31% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 2 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,74% so với cùng kỳ năm ngoái.
HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 7,9% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 9,1% và doanh thu du lịch lữ hành tăng 12,2%.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành trong tháng ước đạt 613,7 nghìn tỷ đồng, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, doanh thu nhóm hàng may mặc tăng 14,3% so với cùng kỳ năm ngoái do nhu cầu mua sắm của người dân tăng trong dịp Tết Nguyên đán; hàng đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 9,6%; lương thực, thực phẩm tăng 9%; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 9,7% và du lịch lữ hành tăng 13,8%. Trong khi đó, dịch vụ khác chiếm 10,3% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chỉ tăng 4,4 % so với cùng kỳ năm 2025.
Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 1.236,6 nghìn tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm ngoái (cùng kỳ tăng 9,3%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 4,5% (cùng kỳ tăng 6,8%).
HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP
Cũng trong tháng, cả nước có 11,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký gần 132,8 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký gần 59,4 nghìn lao động, giảm 53,2% về số doanh nghiệp, giảm 26,6% về vốn đăng ký và giảm 45,1% về số lao động so với tháng 1/2026. So với cùng kỳ năm 2025, tăng 11,6% về số doanh nghiệp, giảm 2,6% về số vốn đăng ký và tăng 0,4% về số lao động.
Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng 2/2026 đạt 11,7 tỷ đồng, tăng 56,9% so với tháng trước và giảm 12,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Bên cạnh đó, cả nước còn có gần 6,2 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 74,9% so với tháng 1/2026 và giảm 12,6% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong tháng 2/2026, có 4.257 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 92,2% so với tháng 1/2026 và tăng 19,8% so với cùng kỳ năm ngoái; 3.492 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 52,2% và tăng 17,5%; có 3.290 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 28,6% và tăng 89,4%.
Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, cả nước có gần 35,5 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký gần 313,7 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký hơn 167,5 nghìn lao động, tăng 70,7% về số doanh nghiệp, tăng 36,1% về vốn đăng ký và tăng 19,1% về số lao động so với cùng kỳ năm 2025. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 2 tháng năm 2026 đạt 8,8 tỷ đồng, giảm 20,3% so với cùng kỳ năm ngoái.
Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 2 tháng đầu năm 2026 là gần 851,9 nghìn tỷ đồng, tăng 20,1% so với cùng kỳ năm 2025. Bên cạnh đó, cả nước có 29 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (giảm 0,2% so với cùng kỳ năm ngoái), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 2 tháng năm 2026 lên gần 64,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 29,4% so với cùng kỳ năm 2025.
CÁN CÂN XUẤT - NHẬP KHẨU
Trong tháng 2/2026, tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu hàng hóa đạt 67,16 tỷ USD, giảm 24,1% so với tháng 1/2026 và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 155,7 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó xuất khẩu tăng 18,3%; nhập khẩu tăng 26,3%.
Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 2,98 tỷ USD.
Xuất khẩu hàng hóa:
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng đạt 33,06 tỷ USD, giảm 23,7% so với tháng 1/2026.
Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 6,44 tỷ USD, giảm 33,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 26,62 tỷ USD, giảm 21%. So với cùng kỳ năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 2/2026 tăng 5,7%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 24,3%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 17%.
Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 76,36 tỷ USD, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 15,96 tỷ USD, giảm 12%, chiếm 20,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 60,4 tỷ USD, tăng 30,1%, chiếm 79,1%.
Trong 2 tháng đầu năm 2026, có 13 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 79,9% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 4 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 57,4%).
Nhập khẩu hàng hóa:
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng đạt 34,1 tỷ USD, giảm 24,6% so với tháng 1/2026.
Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 9,55 tỷ USD, giảm 27,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 24,55 tỷ USD, giảm 23,4%. So với cùng kỳ năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 2/2026 tăng 4,4%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 19,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,1%.
Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 79,34 tỷ USD, tăng 26,3% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 22,47 tỷ USD, giảm 1,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 56,87 tỷ USD, tăng 42,2%.
Trong 2 tháng đầu năm 2026, có 16 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 77,8% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 2 mặt hàng nhập khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 50,2%).
CHỈ SỐ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP (IIP)
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 2/2026 ước giảm 18,4% so với tháng 1/2026 và tăng 1% so với cùng kỳ năm 2025 do Tết Nguyên đán Bính Ngọ diễn ra trong tháng nên số ngày làm việc ít hơn so với tháng trước và cùng kỳ năm 2025.
Tháng 2/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ngành chế biến, chế tạo tăng 2,3% so với cùng kỳ năm ngoái; ngành khai khoáng giảm 5,3%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 5,6%; sản xuất và phân phối điện giảm 4,5%. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2025 (cùng kỳ tăng 7,5%).
Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,5% (cùng kỳ tăng 9,1%), đóng góp 8,9 điểm phần trăm trong mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,3% (cùng kỳ tăng 4,3%), đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,1% (cùng kỳ tăng 12,9%), đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 5,4% (cùng kỳ giảm 5,2%), làm tăng 0,9 điểm phần trăm trong mức tăng chung.
Chỉ số IIP 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025 tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.
THU - CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Thu ngân sách Nhà nước 2 tháng đầu năm 2026 ước tăng 13,1% và chi ngân sách Nhà nước ước tăng 11% so với cùng kỳ năm 2025, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.
Thu ngân sách Nhà nước:
Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 2/2026 ước đạt 170,5 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 601,3 nghìn tỷ đồng, bằng 23,8% dự toán năm và tăng 13,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, một số khoản thu chính như sau:
- Thu nội địa trong tháng ước đạt 159,3 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 558,1 nghìn tỷ đồng, bằng 25,4% dự toán năm và tăng 15% so với cùng kỳ năm 2025.
- Thu từ dầu thô trong tháng ước đạt 1,7 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 5,1 nghìn tỷ đồng, bằng 11,9% dự toán năm và giảm 42,2% so với cùng kỳ năm ngoái.
- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu trong tháng ước đạt 9,6 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 38 nghìn tỷ đồng, bằng 13,7% dự toán năm và tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2025.
Chi ngân sách Nhà nước:
Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 2/2026 ước đạt gần 163 nghìn tỷ đồng; lũy kế 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 311 nghìn tỷ đồng, bằng 9,8% dự toán năm và tăng 11% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong đó, chi thường xuyên 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 241 nghìn tỷ đồng, bằng 13,3% dự toán năm và tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2025; chi đầu tư phát triển ước đạt 42,5 nghìn tỷ đồng, bằng 3,8% và giảm 5,2%; chi trả nợ lãi ước đạt 27,1 nghìn tỷ đồng, bằng 22,3% và tăng 8,1%.
VẬN TẢI HÀNH KHÁCH VÀ HÀNG HÓA
Trong tháng trùng với Tết Nguyên đán 2026 nên nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa đều tăng cao. So với cùng kỳ năm 2025, vận tải hành khách của cả nước trong tháng 2/2026 tăng 23,5% về vận chuyển và tăng 20,7% về luân chuyển; vận tải hàng hóa tăng 14,4% về vận chuyển và tăng 12% về luân chuyển.
Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, vận chuyển hành khách tăng 23,6% và luân chuyển tăng 17% so với cùng kỳ năm ngoái; vận chuyển hàng hóa tăng 14,7% và luân chuyển tăng 6,4%.
Vận tải hành khách trong tháng ước đạt 596,3 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 6,7% so với tháng 1/2026 và luân chuyển 31,5 tỷ lượt khách/km, tăng 7,5%. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 1.155,2 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm ngoái và luân chuyển đạt 60,8 tỷ lượt khách/km, tăng 17%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 1.151,8 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm 2025 và 49,7 tỷ lượt khách/km luân chuyển, tăng 19,9%; vận tải ngoài nước ước đạt 3,4 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 5,9% và 11,1 tỷ lượt khách/km luân chuyển, tăng 5,6%.
Vận tải hàng hóa trong tháng ước đạt 270 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 1,2% so với tháng 1/2026 và luân chuyển 49,1 tỷ tấn/km, giảm 1,6%. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 543,3 triệu tấn vận chuyển, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm ngoái và luân chuyển 99,1 tỷ tấn/km, tăng 6,4%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 533,8 triệu tấn vận chuyển, tăng 14,7% và 61,1 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 7,9%; vận tải ngoài nước ước đạt 9,5 triệu tấn vận chuyển, tăng 15,7% và 38 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 4%.
KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN VIỆT NAM
Các chính sách đột phá về thị thực, sự đổi mới mạnh mẽ trong công tác quảng bá, xúc tiến du lịch cùng với đẩy mạnh đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ đã thu hút đông đảo khách quốc tế đến Việt Nam.
Trong tháng, khách quốc tế đến nước ta đạt hơn 2,2 triệu lượt người, giảm 9,2% so với tháng 1/2026 và tăng 17,7% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt gần 4,7 triệu lượt người, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong đó, khách đến bằng đường hàng không đạt hơn 3,8 triệu lượt người, chiếm 81,8% lượng khách quốc tế đến và tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2025; bằng đường bộ đạt 741,2 nghìn lượt người, chiếm 15,8% và tăng 58,6%; bằng đường biển đạt 109,5 nghìn lượt người, chiếm 2,4% và tăng 10,2%.
VỐN FDI ĐĂNG KÝ CẤP MỚI
Vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước trong tháng được các bộ, ngành và địa phương tích cực triển khai ngay từ đầu tháng và sau kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư công, đặc biệt là các dự án chuyển tiếp.
Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 9,4% kế hoạch, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm 2025. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện tại Việt Nam 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3,21 tỷ USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm ngoái.
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước trong tháng ước đạt gần 38,9 nghìn tỷ đồng, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm 2025 bao gồm: Vốn Trung ương quản lý đạt 5,8 nghìn tỷ đồng, tăng 5,9%; vốn địa phương quản lý 33,1 nghìn tỷ đồng, giảm 0,5%. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 83,5 nghìn tỷ đồng, bằng 9,4% kế hoạch năm và tăng 11,5% so với cùng kỳ năm ngoái (cùng kỳ bằng 7,4% và tăng 24,6%).
Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 28/2 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 6,03 tỷ USD, giảm 12,6% so với cùng kỳ năm 2025.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 2 tháng đầu năm 2025 ước đạt 3,21 tỷ USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 2 tháng đầu năm trong 5 năm qua. Trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 2,65 tỷ USD, chiếm 82,7% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; Hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 223,5 triệu USD, chiếm 7%; Sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 119,2 triệu USD, chiếm 3,7%.
Trong số 44 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 2 tháng đầu năm 2026, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 1,34 tỷ USD, chiếm 37,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Singapore 1,1 tỷ USD, chiếm 31,1%; Trung Quốc 522,8 triệu USD, chiếm 14,8%; Nhật Bản 171 triệu USD, chiếm 4,8%; Đặc khu hành chính Hồng Kông (TQ) 143 triệu USD, chiếm 4%; Mỹ 85,6 triệu USD, chiếm 2,4%; Samoa 68,7 triệu USD, chiếm 1,9%...
Cũng trong 2 tháng đầu năm 2026, có 36 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam trong đó: Lào là nước dẫn đầu với 176,7 triệu USD, chiếm 32,7% tổng vốn đầu tư; Kyrgyzstan 149,9 triệu USD, chiếm 27,8%; Angola 30 triệu USD, chiếm 5,6%; Hà Lan 29,4 triệu USD, chiếm 5,5%; Thụy Điển 28,5 triệu USD, chiếm 5,3%.
7 địa phương dẫn đầu về thu hút vốn FDI đăng ký cấp mới là Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Hà Nội, TP.HCM, Bắc Ninh, Đồng Nai và Hưng Yên.
