“Về khách quan có thể thấy kinh tế thế giới năm 2012 tăng trưởng chậm
chạp, rủi ro ngày càng tăng và quá trình phục hồi kinh tế ngày càng khó
khăn hơn. Dự báo trong năm 2013, kinh tế thế giới có thể phục hồi nhẹ
nhưng yếu ớt. Kinh tế vĩ mô của Việt Nam năm 2012 có cải thiện song rủi
ro vẫn luẩn khuất, sản xuất kinh doanh rất khó khăn, phục hồi chậm chạp
và yếu. Những vấn đề nổi cộm trong năm 2012 còn có thể tiếp diễn trong
năm 2013", Viện sĩ, TSKH Trương Công Phú - Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn kinh tế UBMTTQ Việt Nam chia sẻ.
Trong cuộc trò chuyện đầu năm, ông Phú đã phân tích rõ hơn những điểm nóng kinh tế này.
- Thưa ông, dẫu cho cuối năm 2012, nền kinh tế Việt Nam có vẻ đang
“ấm lại” sau những biện pháp quyết liệt trong điều hành kinh tế, tài
chính, tiền tệ của Chính phủ. Tuy nhiên theo nhận định chung năm 2013
nền kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục phản đối mặt với những thách thức lớn,
ông có thể nhận diện một cách rõ hơn nhưng “điểm nóng”?
Nhân tố kích thích tăng trưởng kinh tế
là sức cầu tiêu dùng nội địa, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ vốn đầu tư
toàn xã hội/GDP so với năm trước đều giảm và trong những năm tiếp theo
chưa có khả năng tăng đáng kể. Như vậy, hiệu quả đầu tư giảm và là một
trong những nguy có tiềm ẩn lạm phát.
Ba là, lạm hát có thể quay trở lại. Mặc dù chỉ số giá tiêu dùng năm
2012 chỉ tăng 9,21% nhưng vẫn lo ngại khả năng tăng giá tiếp tục tái
diễn trong năm 2013.
Ba là, lạm
hát có thể quay trở lại. Mặc dù chỉ số giá tiêu dùng năm 2012 chỉ tăng
9,21% nhưng vẫn lo ngại khả năng tăng giá tiếp tục tái diễn trong năm
2013.
Bốn là, hàng tồn kho vẫn ở mức cao, đặc biệt là ở các mặt hàng tha, sắt thép, phân bón, xi măng. Đặc biệt
tồn kho BĐS trên 40.000 tỷ đồng, hàng sản suất ra không bán được làm
hàng loạt DN rơi vào khó khăn đình trệ sản xuất, thua lỗ, phá sản, dẫn
đến tình trạng nợ đọng thuế và giảm tốc độ tăng trưởng.
Năm là, nợ xấu ngân hàng tăng
mạnh. Theo báo cáo của Thủ tướng trình QH ngày 14/11/2012, nợ xấu tại
thời điểm trên là 8,82% tổng mức tín dụng của nền kinh tế, tương đương
khoảng 250.000 tỷ đồng (gần 12 tỷ USD) tương đương với 10% GDP. Con số
nợ xấu này lớn gấp 11,7% lần con số năm 2011, dù chưa tính đến nợ tồn
đọng trong xây dựng cơ bản (dự tính khoảng 90.000 tỷ đồng).
Từ năm 2009 đến nay nợ xấu của các
TCTD tăng nhanh và chưa có dấu hiệu dừng lại. Trong 10 năm qua, tín dụng
liên tục tăng trưởng, bình quân khoảng 33% năm, song khi tín dụng tăng
trưởng thấp, sản xuất kinh doanh đình trệ thì tỷ lệ nợ xấu càng trở nên
rõ ràng hơn.
Sáu là, thị trường BĐS khó
khăn, đóng băng, tồn kho lớn. Theo Bộ Xây dựng, cả nước hiện có 16.469
căn hộ chung cư 4.116 nhà thấp tầng, 25.870m2 nhà văn phòng cho thuê với
tổng giá trị hàng tồn kho BĐS khoảng 40.000 tỷ đồng.
Nhưng theo số liệu của các tổ chức đầu
tư quốc tế như Dragon Capital thì số căn hộ tồn kho chỉ riêng ở Hà Nội
và Tp.HCM và 70.000 căn, giá trị tồn kho tạm tính ở mức 100.000 tỷ đồng,
gấp hơn 2 lần số liệu của Bộ Xây dựng, chưa kể tới nhà liền kề, biệt
thự.
Bảy là, thị trường chứng
khoán (TTCK) bất ổn. Nhìn chung trong năm qua, TTCK liên tục giảm điểm,
thanh khoản thị trường liên tục giảm điểm, thanh khoản thị trường sụt
giảm cùng với khối lượng giao dịch xuống thấp, niềm tin của nhà đầu tư
trong và ngoài nước ngày càng suy giảm. Tình hình này có tác động xấu
trong việc huy động vốn của các DN qua TTCK.
Tám là, quản lý thị trường
vàng còn nhiều bất cập. Việt Nam là một trong số các quốc gia tiêu thụ
vàng miếng nhiều nhất thế giới, phần lớn số này tích trữ trong dân
(khoảng 400 tấn). Chúng ta chưa có chính sách phù hợp để huy động vàng
miếng phục vụ cho phát triển kinh tế, đồng thời đảm bảo an toàn và lợi
ích cho người có vàng.
Việt Nam có ít mỏ vàng nên nguồn cung
vàng chủ yếu là từ nhập khẩu (95%). Để nhập khẩu vàng phải dùng ngoại tệ
và điều này gây sức éo lên thị trường ngoại hối và cán cân thương mại.
- Thực ra, chúng ta cũng đã đưa ra
được nhiều kế hoạch, lộ trình để tái cơ cấu nền kinh tế, giải quyết
những bất cập của kinh tế vĩ mô như ông đã nói chung nhưng trên thực tế
kết quả mang lại chưa được như mong đợi. Theo ông đâu là những vương mắc
chủ chốt?
TSKH Trương Công Phú:
Vừa qua Chính phủ, Quốc hội đã đưa ra đầy đủ các giải pháp khái quát.
Hiện chúng ta phải dựa vào: Một là cương lĩnh chính trị của Đại hội Đảng
lần thứ XI; Hai là chiến lược phát triển KT – XH 5 năm (2011 – 2015);
Ba là Nghị quyết TW 3,4,5,6. Trên nền tảng đó phải giải quyết 2 vấn đề
cốt yếu trước mắt và lâu dài. Nếu ta chỉ giải quyết vấn đề trước mắt thì
sẽ không có tầm nhìn dài lâu, tức là cơ cấu lại cả nền kinh tế.
Mặt khác, phải chuyển dịch mô hình
phát triển kinh tế từ thủ công sang mô hình khoa học và công nghệ, nền
kinh tế phải phát triển cả chiều rộng và chiều sâu chứ chỉ phát triển
theo chiều rộng như hiện nay thì không bền vững. Nhưng cho đến nay cũng
chưa thấy công bố rõ ràng về đề án tái cơ cấu – một vấn đề cực kỳ quan
trọng.
Mặt khác, tham nhũng là một trong
những yếu tố góp phần đáng kể gây ra những bất cập cho nền kinh tế. Tham
nhũng hiện nay xuất phát từ trong tư tưởng, ngay từ trong các đề xuất
để làm chính sách. Không ít trường hợp khi làm chính sách đã lồng tư
tưởng tham nhũng vào đó, hay khi đã có chính sách đúng thì lại lái vấn
đề theo lợi ích nhóm.
Tôi đơn của như một bộ luật rất quan
trọng là Luật Đất đai. Có nhiều văn bản dưới luật là không đúng, thậm
chí trái luật. Nhưng phải khi xét xử thì cứ căn cứ vào đó để phán xét.
Vì vậy, việc chống tham những phải bắt đầu ngay từ những giai đoạn sơ
khai khi nghiên cứu, ban hành các văn bản pháp luật.
- Từ những kiến giải ở tầm vĩ mô
này, ông có thể cung cấp một số giải pháp chính để giải quyết một trong 8
điểm nóng của nền kinh tế Việt Nam mà ông vừa nêu là tồn kho?
TSKH Trương Công Phú:
Về vấn đề tồn kho, trước hết là những loại hàng tồn cụ thể như sắt
thép, xi măng thì chúng ta có thể giải quyết bằng các giải pháp: trước
hết, phải hạn chế nhập từ nước ngoài, thứ hai là kích cầu để sử dụng
lượng hàng dư thừa này bằng cách làm giao thông nông thôn và làm thủy
lợi nông thôn như các loại mương máng thoát nước cho đồng ruộng.
Riêng việc làm giao thông nông thôn
và thủy lợi đã giải quyết được lượng xi măng, sắt thép rất lớn. Phương
pháp có thể áp dụng là Nhà nước hỗ trợ nguyên vật liệu, còn dân thì bỏ
công sức, hiến đất đai để làm. Ngoài ra, có thể mở rộng ra làm trường
học, bệnh viên, trạm xá, những công trình thiết yếu trong đời sống người
dân.
Đối với việc giải quyết tồn đọng BĐS
thì phức tạp hơn nhiều. Tồn đọng BĐS là do chúng ta đã không quản lý
chặt trong việc xây dựng. Giải pháp cho vấn đề này chỉ còn cách hạn chế
xây mới các công trình, căn hộ đắt giá, xa xỉ. Còn những công trình, căn
hộ đã hoàn thành thì Nhà nước nên mua, và cho các cán bộ công chức
không có đủ tiền mua nhà thuê lại.
Đối với những căn hộ lớn có thể cải
tạo thành nhiều căn bộ nhỏ hơn để bán với giá phải chăng từ cao cấp đến
trung bình, bình thường như vậy sẽ góp phần giải quyết được lường tồn
kho BĐS hiện có. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng nhất ở đây vẫn là giá.
Thời gian qua các nhà đầu tư BĐS đã lãi lắm rồi, số tiền lãi này đã được
tích lũy, bây giờ họ phải chịu lỗ để đưa giá về con số thực, để người
có thu nhập trung bình và thu nhập thấp vẫn có thể mua được nhà, còn họ
thì giải quyết được lượng hàng tồn.
Chủ đầu tư các dự án BĐS phải bình
đẳng, không được có những ưu đãi gì đặc biệt, họ cứ xây nhưng Nhà nước
phải thành lập cơ quan để mua lại, còn những ưu đãi về đất đai, thuế
khóa… thì phải thành lập quĩ riêng hẳn ra để hỗ trợ cho người mua nhà,
chứ không phải hỗ trợ cho người xây nhà. Bởi nếu để chủ đầu tư hưởng
những ưu đãi này thì khi dành cho bà con, họ hàng, bạn bè thân thiết chứ
người mua nhà không báo giờ có cơ hội mua được nhà giá rẻ.
- Còn nợ xấu, theo ông chúng ta phải làm gì?
TSKH Trương Công Phú:
Trước hết phải có những đánh giá chính xác nợ xấu là bao nhiêu. Tôi có
nghe giới ngân hàng thường “làm đẹp” sổ sách bằng việc giảm hoặc giấu đi
các con số về nợ xấu bởi nó động chạm đến nhiều chỉ tiêu của ngành, của
từng đơn vị.
Khi đã làm rõ rồi thì tùy theo từng
nguyên nhân gây ra nợ xấu, nếu rủi ro là do ngân hàng thì ngân hàng phải
dùng trích lập dự phòng rủi ro của ngân hàng để tự xử lý, nếu do tham
những thì cả 2 bên ngân hàng và người đi vay phải tự khắc phụ và tự chịu
trách nhiệm, không thể bỏ trích lập rủi ro ra xử lý thay.
Trước đây, người ta cũng đã bàn luận
nhiều về việc thành lập một công ty mua bán nợ. Dư luận đã tranh luận
rất gay gắt về mô hình của công ty này như thế nào, hoạt động ra sao và
quan trọng là lấy nguồn vốn từ đầu.
Vừa qua, chính phủ và NHNN đã chính
thức có ý kiến không thành lập công ty của Nhà nước, nghĩa là không lấy
tiền ngân sách để mua nợ, đó là điều đáng mừng. Tuy nhiên, ở đây cũng
cần lưu ý nếu tổ chức này lại phát hành trái phiếu hay những công cụ
tương tự để làm nguồn vốn thanh toán nợ xấu mà không thu hồi được (khả
năng là rất cao) thì ngân sách lại phải gánh thay, dễ sa vào vòng luẩn
quẩn.
Theo Thành Tâm/Thời báo Kinh tế Việt Nam